Chính sách hỗ trợ tạo việc làm và định hướng

Thứ sáu - 13/07/2018 11:16

Giải quyết việc làm là một trong những chính sách quan trọng đối với mỗi quốc gia, đặc biệt là đối với các nước đang phát triển có lực lượng lao động lớn như Việt Nam; giải quyết việc làm cho người lao động (NLĐ) trong sự phát triển của thị trường lao động (TTLĐ) là tiền đề quan trọng để sử dụng có hiệu quả nguồn lao động, góp phần tích cực vào việc hình thành thể chế kinh tế thị trường, đồng thời tận dụng lợi thế để phát triển, tiến kịp khu vực và thế giới.

I. CHÍNH SÁCH, PHÁP LUẬT VỀ VIỆC LÀM

1. Các quy định pháp luật về việc làm

Nhận thức rõ tầm quan trọng, các cơ chế, chính sách về lao động, việc làm được kịp thời đánh giá, bổ sung và sửa đổi đảm bảo ngày càng thông thoáng, phù hợp với cơ chế thị trường và hội nhập, đảm bảo quyền và lợi ích của NLĐ, người sử dụng lao động và tuân thủ các quy luật kinh tế thị trường. Hệ thống các căn bản quản lý Nhà nước về lao động, việc làm ngày càng hoàn thiện, nhiều Luật ra đời và đi vào cuộc sống như Bộ Luật Lao động, Luật giáo dục nghề nghiệp, Luật bảo hiểm xã hội, Luật người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng,...

Đặc biệt, nhằm cụ thể hoá Hiến pháp năm 2013 và thể chế hoá chủ trương, đường lối, quan điểm và định hướng xây dựng đất nước của Đảng Cộng sản Việt Nam, ngày 16/11/2013, Quốc hội khóa XIII, kỳ họp thứ 6 đã thông qua Luật Việc làm (Luật số 38/2013/QH13). Lần đầu tiên Việt Nam có một văn bản luật quy định đầy đủ, điều chỉnh toàn diện các quan hệ về việc làm và TTLĐ, là cơ sở pháp lý quan trọng nhằm tạo cơ hội việc làm theo hướng bền vững cho mọi lao động trong xã hội, đồng thời, thể hiện trách nhiệm của Việt Nam với tư cách là một thành viên trong cộng đồng quốc tế, tôn trọng và tuân thủ luật pháp quốc tế, nhất là các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên, trong đó có Công ước số 122 của Tổ chức lao động quốc tế về chính sách việc làm, quyết tâm phấn đấu giải quyết các vấn đề xã hội ngay trong quá trình đổi mới, phát triển và hội nhập. Luật Việc làm có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2015 bao gồm 07 Chương, 62 Điều quy định về chính sách hỗ trợ tạo việc làm; thông tin TTLĐ; đánh giá, cấp chứng chỉ kỹ năng nghề quốc gia; tổ chức và hoạt động dịch vụ việc làm (DVVL); bảo hiểm thất nghiệp (BHTN).

2. Các chính sách về việc làm

Trên cơ sở các quy định của pháp luật về việc làm, Chính phủ cũng đã ban hành nhiều cơ chế, chính sách cụ thể liên quan đến quyền có việc làm của NLĐ và quyền tuyển dụng lao động của người sử dụng lao động, đảm bảo hài hoà quyền lợi và nghĩa vụ của các bên trong quan hệ lao động. Song song với đó, Chính phủ cũng ban hành nhiều chính sách về hỗ trợ tạo và tự tạo việc làm cho NLĐ, nhất là cho các nhóm lao động yếu thế; các chính sách hỗ trợ NLĐ thất nghiệp nhanh chóng quay trở lại TTLĐ (chính sách BHTN); các chính sách về tư vấn, giới thiệu việc làm, cung ứng lao động, định hướng nghề nghiệp, thông tin dự báo TTLĐ nhằm kết nối cung cầu lao động; các chính sách bảo hiểm xã hội (BHXH), an toàn vệ sinh lao động, bệnh nghề nghiệp… góp phần đẩy mạnh giải quyết việc làm cho NLĐ, nâng cao thu nhập và cải thiện cuộc sống cho người dân, cụ thể:

- Các chính sách hỗ trợ tạo việc làm (Nghị định số 61/2015/NĐ-CP quy định về chính sách hồ trợ tạo việc làm và Quỹ quốc gia về việc làm), tập trung:

+ Chính sách tín dụng ưu đãi tạo việc làm từ Quỹ quốc gia về việc làm và các nguồn tín dụng khác;

+ Chính sách hỗ trợ chuyển dịch việc làm đối với NLĐ ở khu vực nông thôn, chính sách việc làm công;

+ Các chính sách hỗ trợ đưa NLĐ đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng, hỗ trợ tạo việc làm cho thanh niên; hỗ trợ tạo việc làm cho các nhóm lao động yếu thế như người khuyết tật, người nghèo, người dân tộc thiểu số, vùng sâu vùng xa.

- Chính sách BHTN (Nghị định số 28/2015/NĐ-CP ngày 12/3/2015 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Việc làm về BHTN, Quyết định số 77/2014/QĐ-TTg ngày 24/12/2014 của Thủ tướng Chính phủ quy định mức hỗ trợ học nghề đối với NLĐ tham gia BHTN) bao gồm các chế độ: Hỗ trợ tư vấn, giới thiệu việc làm, hỗ trợ học nghề, hỗ trợ đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao trình độ kỹ năng nghề để duy trì việc làm cho NLĐ, trợ cấp thất nghiệp.

- Các chính sách hỗ trợ phát triển TTLĐ, thông tin TTLĐ và kết nối cung cầu lao động như: hỗ trợ phát triển hệ thống thông tin TTLĐ, thu thập, lưu trữ, cung cấp thông tin TTLĐ, phân tích, dự báo TTLĐ; kết nối cung cầu lao động và nâng cao năng lực hoạt động của các tổ chức DVVL trong việc cung cấp các DVVL (Nghị định 196/2013/NĐ-CP ngày 21/11/2013 của Chính phủ quy định thành lập và hoạt động của Trung tâm DVVL; Nghị định 52/2014/NĐ-CP ngày 23/5/2014 của Chính phủ quy định điều kiện, thủ tục cấp giấy phép hoạt động DVVL của doanh nghiệp hoạt động DVVL; Quyết định số 1833/QĐ-TTg ngày 28/10/2015 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt quy hoạch mạng lưới các Trung tâm DVVL giai đoạn 2016-2025).

          Ngoài việc ban hành triển khai thực hiện các chính sách nêu trên, Chính phủ đã triển khai thực hiện nhiều Chương trình, dự án lớn về trong phạm vi cả nước như: Chương trình mục tiêu quốc gia về việc làm (qua 02 giai đoạn 2001-2005 và 2006-2010), Chương trình mục tiêu quốc gia về việc làm và dạy nghề giai đoạn 2012-2015, Chương trình mục tiêu giáo dục nghề nghiệp, việc làm và an toàn lao động giai đoạn 2016-2020, Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững giai đoạn 2016-2020, Chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2010-2020, Đề án hỗ trợ các huyện nghèo đẩy mạnh xuất khẩu lao động góp phần giảm nghèo bền vững giai đoạn 2009-2020, Đề án đào tạo nghề cho lao động nông thôn đến năm 2020; thành lập Quỹ quốc gia về việc làm (từ năm 1992) để hỗ trợ tạo việc làm thông qua các dự án vay vốn với lãi suất ưu đãi; thành lập Quỹ hỗ trợ việc làm ngoài nước (năm 2007)… nhằm phát triển và mở rộng TTLĐ ngoài nước, nâng cao chất lượng nguồn lao động, hỗ trợ giải quyết rủi ro cho NLĐ và doanh nghiệp; hình thành và phát triển hệ thống các Trung tâm DVVL công.

II. KẾT QUẢ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH, PHÁP LUẬT VỀ VIỆC LÀM

1. Kết quả giải quyết việc làm cho người lao động

1.1. Kết quả giải quyết việc làm chung

Trong những năm qua tình hình KT-XH nước ta diễn ra trong bối cảnh thế giới có nhiều biến động mạnh, tuy nhiên Chính phủ đã tập trung chỉ đạo quyết liệt và thực hiện nhiều giải pháp nhằm ổn định tình hình kinh tế, thúc đẩy các hoạt động sản xuất kinh doanh và dịch vụ, thúc đẩy tiêu dùng xã hội, quy mô kinh tế tiếp tục tăng trưởng khá (tốc độ tăng trưởng GDP đạt gần 6%/năm giai đoạn 2011-2016, năm 2017 tăng 6,81%; quy mô vốn đầu tư xã hội cao (bình quân chiếm 31,8% GDP giai đoạn 2011-2015), các doanh nghiệp nhỏ và vừa phát triển mạnh (giai đoạn 2011-2016, mỗi năm có trên 80 nghìn doanh nghiệp thành lập mới, năm 2017 có gần 127 nghìn doanh nghiệp thành lập mới)… là động lực chủ yếu để tạo thêm nhiều việc làm ổn định và bền vững cho NLĐ. Giai đoạn từ 2011-2017, hằng năm cả nước đã giải quyết việc làm cho khoảng 1,5-1,6 triệu lao động (năm 2011: 1,538 triệu lao động; năm 2012: 1,52 triệu lao động; năm 2013: 1,54 triệu lao động; năm 2014: 1,6 triệu lao động; năm 2015: 1,617 triệu lao động; năm 2016: 1,641 triệu lao động và năm 2017 giải quyết việc làm cho khoảng 1,633 triệu lao động).

1.2. Hỗ trợ tạo việc làm thông qua Quỹ Quốc gia về việc làm

Ra đời từ năm 1992, Quỹ Quốc gia về việc làm tiếp tục đóng vai trò ngày càng quan trọng trong hỗ trợ tạo và tự tạo việc làm cho NLĐ thông qua việc cho vay vốn với lãi suất ưu đãi đối với NLĐ và cơ sở sản xuất kinh doanh (doanh nghiệp nhỏ và vừa, hợp tác xã, tổ hợp tác, hộ kinh doanh). Mức vay tối đa đối với cơ sở sản xuất kinh doanh lên tới 01 tỷ đồng/dự án và 50 triệu đồng/NLĐ (không cần bảo đảm tiền vay) với thời hạn vay tối đa 60 tháng đã góp phần quan trọng hỗ trợ giải quyết việc làm cho NLĐ.

Đến nay, tổng nguồn vốn của Quỹ quốc gia về việc làm đạt trên 4.453 tỷ đồng, doanh số cho vay hằng năm từ 2.200-2.500 tỷ đồng, hỗ trợ tạo việc làm cho khoảng 100 nghìn lao động mỗi năm, tỷ lệ nợ quá hạn thấp (khoảng 0,8% tổng dư nợ), tỷ lệ sử dụng vốn cao (hàng năm đạt trên 98% tổng nguồn vốn của Quỹ). Giai đoạn 2011-2015, cả nước hỗ trợ tạo việc làm thông qua Quỹ quốc gia về việc làm cho khoảng 530 nghìn lao động. Năm 2016 thông qua Quỹ quốc gia về việc làm hỗ trợ tạo việc làm cho khoảng 105.000 lao động, năm 2017 hỗ trợ tạo việc làm cho trên 114 nghìn lao động, trong đó chủ yếu là lao động ở khu vực nông thôn (chiếm khoảng 90%), lao động nữ (chiếm 67%) và các nhóm đối tượng yếu thế như lao động là người khuyết tật (2.540 người), lao động là người dân tộc thiểu số (6.112 người), lao động bị thu hồi đất…

1.3. Đưa lao động và chuyên gia đi làm việc ở nước ngoài

Song song với đẩy mạnh tạo việc làm trong nước, Việt Nam cũng tích cực đưa lao động và chuyên gia đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng, hằng năm, Việt Nam đưa được từ 100-120 nghìn lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng, tập trung chủ yếu tại các thị trường như Đài Loan, Malaysia, Hàn Quốc, Nhật Bản, Trung Đông,... trong đó, 70% là lao động trẻ trong độ tuổi từ 18-30 tuổi, góp phần giải quyết việc làm, tăng thu nhập, giảm nghèo bền vững, đồng thời tạo điều kiện cho lao động, nhất là lao động trẻ có cơ hội học hỏi kinh nghiệm, hội nhập và rèn luyện tác phong công nghiệp, kỷ luật trong lao động sản xuất, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực.

2. Thực hiện chính sách Bảo hiểm thất nghiệp

Chính sách BHTN tiếp tục phát huy vai trò quan trọng hỗ trợ bù đắp một phần thu nhập cho người thất nghiệp, đặc biệt, giúp người thất nghiệp sớm quay trở lại TTLĐ. Sau 09 năm triển khai thực hiện, đến nay, cả nước có 11.262.273 người tham gia BHTN (chiếm gần 85,6% trong tổng số người tham gia BHXH bắt buộc). Năm 2017, hệ thống Trung tâm DVVL ngành Lao động - Thương binh và Xã hội đã tiếp nhận hồ sơ hưởng trợ cấp thất nghiệp của 660.491 người (tăng 15% so với cùng kỳ năm 2016), trong đó 650.410 người có quyết định hưởng trợ cấp thất nghiệp (chiếm 98,5% số người nộp hồ sơ hưởng trợ cấp thất nghiệp); đã tư vấn, giới thiệu việc làm cho 1.076.589 lượt người (tăng 22,7% so với cùng kỳ năm 2016); hỗ trợ học nghề cho 33.521 người (tăng 21,3% so với cùng kỳ năm 2016), chiếm 5,15% số người có quyết định hưởng trợ cấp thất nghiệp.

3. Phát triển hệ thống thông tin TTLĐ và hỗ trợ kết nối cung - cầu lao động

Nhằm đẩy mạnh kết nối cung - cầu lao động, trong giai đoạn qua, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội đã tập trung đầu tư nâng cao năng lực cho hệ thống Trung tâm DVVL thuộc ngành Lao động - Thương binh và Xã hội và các Trung tâm hướng nghiệp, dạy nghề và giới thiệu việc làm của Trung ương Đoàn thông qua các Chương trình mục tiêu quốc gia về việc làm từ năm 2006 đến nay, góp phần nâng cao năng lực của hệ thống Trung tâm DVVL trong tư vấn, giới thiệu việc làm cho NLĐ và cung cấp thông tin TTLĐ miễn phí; cung ứng lao động theo yêu cầu của người sử dụng lao động; thu thập thông tin TTLĐ và xuất bản các bản tin thị trường lao động; đào tạo kỹ năng cho NLĐ; thực hiện các chương trình, dự án việc làm và tổ chức thực hiện tốt chính sách BHTN.

Các Trung tâm đã đa dạng hóa các hoạt động giao dịch việc làm, chú trọng tổ chức các sàn giao dịch việc làm định kỳ, thường xuyên, tạo cơ hội cho NLĐ, chủ yếu là thanh niên tiếp cận thông tin việc làm, nghề nghiệp. Đến nay, cả nước đã có 48 Trung tâm DVVL tổ chức sàn giao dịch việc làm (bình quân một phiên giao dịch thu hút từ 25-30 doanh nghiệp, 400-450 lao động tham gia (80-90% là thanh niên), trong đó có 200-230 lao động được sơ tuyển, phỏng vấn). Ngoài ra, các Trung tâm cũng chủ động phối hợp với cơ sở đào tạo, các doanh nghiệp tổ chức các hoạt động giao dịch việc làm dành riêng thanh niên, sinh viên mới tốt nghiệp; tư vấn, định hướng nghề nghiệp cho thanh niên trong các nhà trường phổ thông, các cơ sở đào tạo.

Bên cạnh đó, nhằm định hướng cho công tác đào tạo cũng như lựa chọn ngành nghề của người học, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội đã chủ động, tích cực thực hiện nhiều giải pháp như: hoàn thiện hệ thống thông tin TTLĐ, thu thập, cập nhật, phổ biến thông tin TTLĐ; tổ chức điều tra nhu cầu sử dụng lao động trong các loại hình doanh nghiệp; thu thập, cập nhật cơ sở dữ liệu cung - cầu lao động hàng năm; chỉ đạo hệ thống các Trung tâm DVVL thành lập bộ phận phân tích, dự báo TTLĐ; phối hợp với Bộ Kế hoạch và Đầu tư (Tổng cục Thống kê) định kỳ hàng quý công bố Bản tin cập nhật TTLĐ… nhằm cung cấp thông tin về tình hình việc làm, nhu cầu của TTLĐ, giúp NLĐ và người học có cơ sở định hướng nghề nghiệp, lựa chọn ngành học và công việc, hạn chế tình trạng thất nghiệp sau đào tạo.

III. MỘT SỐ TỒN TẠI, HẠN CHẾ TRONG GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM

1. Hệ thống các chính sách về việc làm chưa thực sự đáp ứng các yêu cầu của phát triển KT-XH

Các chính sách về việc làm còn mang tính chung chung, chưa cụ thể; thiếu các chính sách về việc làm bền vững, các chính sách về việc làm ở khu vực phi chính thức, khu vực nông thôn; chính sách tiền lương chưa phù hợp, chưa tạo sự bình đẳng giữa các loại hình doanh nghiệp; phạm vi bao phủ của các chính sách về BHXH, BHTN còn hạn chế. Đồng thời, việc triển khai thực hiện các chính sách còn chậm, gặp nhiều khó khăn do số lượng đối tượng lớn, thiếu cán bộ cơ sở (cấp xã, huyện), sự phối hợp giữa các Bộ, ngành, địa phương chưa chặt chẽ trong khi thiếu các nguồn lực bố trí cho các Chương trình, dự án lớn về việc làm.

2. Chất lượng lao động còn nhiều hạn chế

Thể lực NLĐ yếu chưa đáp ứng được yêu cầu với cường độ công việc cao; tỷ lệ lao động qua đào tạo thấp cộng với cơ cấu đào tạo bất hợp lý, thiếu lao động có chuyên môn kỹ thuật; đa phần NLĐ chưa có tác phong công nghiệp; ý thức chấp hành kỷ luật lao động chưa nghiêm; năng suất lao động thấp.

3. Việc làm vẫn là một vấn đề bức xúc

Chất lượng việc làm chưa cao, tính ổn định, bền vững trong việc làm và hiệu quả tạo việc làm còn thấp, đặc biệt là đối với thanh niên trong độ tuổi từ 19-24; lao động nông thôn, nhất là lao động nữ lớn tuổi gặp nhiều khó khăn trong chuyển đổi việc làm; chất lượng việc làm của nhóm lao động yếu thế thấp; tình trạng mất cân đối cung - cầu lao động cục bộ diễn biến phức tạp, các doanh nghiệp vẫn phải đối mặt với khó khăn trong tuyển dụng lao động, kể cả lao động có trình độ chuyên môn kỹ thuật và lao động phổ thông; nhiều vấn đề đặt ra trong quản lý lao động, việc làm như lao động lớn tuổi, lao động di cư từ nông thôn ra thành thị và khu công nghiệp tìm kiếm việc làm chưa được nghiên cứu, đánh giá một cách chính xác.

4. Mục tiêu mở rộng diện bao phủ BHXH, BHTN đến năm 2020 còn nhiều khó khăn

Tình trạng trốn đóng, nợ đọng tiền BHXH, BHTN vẫn còn diễn biến phức tạp, tiềm ẩn rủi ro cho việc cân đối các quỹ này; các hoạt động hỗ trợ đào tạo nghề cho người thất nghiệp chưa hấp dẫn, tỷ lệ người thất nghiệp học nghề thấp; việc kết nối và đồng bộ hóa, chia sẻ cơ sở dữ liệu giữa ngành Lao động - Thương binh và Xã hội và BHXH chưa được thực hiện nên việc kiểm tra, rà soát tình trạng việc làm của NLĐ hạn chế (một số NLĐ đã có việc làm nhưng vẫn nhận trợ cấp thất nghiệp)…

5. Hệ thống thông tin TTLĐ chưa hoàn thiện, chưa có sự kết nối về thông tin trên phạm vi vùng, cả nước

Công tác quản lý và nắm thông tin tin lao động về số lượng, cơ cấu, chất lượng, độ tuổi, giới tính… còn hạn chế, chưa đầy đủ, kịp thời, chính xác, chưa đáp ứng yêu cầu; hoạt động phân tích và dự báo TTLĐ còn yếu kém, gây ảnh hưởng lớn đến việc hoạch định các chính sách phát triển TTLĐ nói chung, chính sách phát triển nguồn nhân lực và giải quyết việc làm nói riêng.

6. Hệ thống Trung tâm DVVL còn hạn chế về khả năng tư vấn, giới thiệu việc làm và thu thập thông tin về cung - cầu lao động

Hoạt động của các Trung tâm chưa đồng bộ, chưa có sự gắn kết trở thành một hệ thống kết nối trên phạm vi toàn quốc; việc ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động DVVL còn hạn chế; tần suất, phạm vi các hoạt động giao dịch việc làm chủ yếu ở khu vực thành thị, tại các khu vực có đông NLĐ...

IV. ĐỊNH HƯỚNG ĐẨY MẠNH GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM

Trong bối cảnh thời đại toàn cầu hóa - tự do hóa, liên kết, hội nhập sâu rộng vào nền kinh tế thế giới với những hiệp định thương mại tự do thế hệ mới, cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 đã và đang diễn ra mạnh mẽ với công nghệ và trí tuệ quyết định sự thành công của mỗi quốc gia, doanh nghiệp; xu thế mở rộng và phát triển các ngành sử dụng công nghệ cao, có giá trị gia tăng cao từng bước thay thế các ngành công nghệ thấp, giá trị gia tăng thấp và thâm dụng lao động; những thách thức trong việc tạo cơ hội việc làm có năng suất cao hơn ở khu vực nông thôn; nâng cao chất lượng nguồn lao động hướng tới việc làm năng suất, chất lượng cao… vừa đem lại những cơ hội nhưng đồng thời cũng là thách thức lớn đối với nước ta trong giải quyết việc làm cho NLĐ. Để đảm bảo phát triển hài hoà giữa tăng trưởng kinh tế và giải quyết việc làm, ổn định và nâng cao mức sống của người dân, trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ được giao, Cục Việc làm đã và đang tham mưu giúp Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội tập trung thực hiện đồng bộ một số giải pháp chính sau:

1) Tiếp tục hoàn thiện thể chế, chính sách về việc làm, TTLĐ phù hợp với định hướng phát triển KT-XH của đất nước trong bối cảnh hội nhập: nghiên cứu, xây dựng và tổ chức thực hiện các chính sách nhằm hỗ trợ, khuyến khích doanh nghiệp sử dụng lao động lớn tuổi, nhất là trong bối cảnh tác động của cuộc cách mạng công nghiệp 4.0; các chính sách hỗ trợ tạo việc làm cho các đối tượng yếu thế, các nhóm đối tượng dễ bị tổn thương trong xã hội;

2) Tổ chức thực hiện có hiệu quả các chương trình, dự án, hoạt động hỗ trợ tạo việc làm như Chương trình mục tiêu Giáo dục nghề nghiệp - Việc làm và An toàn lao động giai đoạn 2016-2020; hoạt động hỗ trợ tạo việc làm qua Quỹ quốc gia về việc làm và các nguồn ủy thác qua Ngân hàng Chính sách xã hội; lồng ghép chính sách việc làm công trong các chương trình, dự án phát triển KT-XH...;

3) Hoàn thiện hệ thống thông tin TTLĐ; đẩy mạnh thu thập, cập nhật và phân tích thông tin TTLĐ và thông tin về tình hình biến động, nhu cầu việc làm tại các doanh nghiệp; nâng cao chất lượng dự báo TTLĐ trong ngắn hạn và dài hạn nhằm cung cấp các thông tin về cơ hội việc làm, chỗ việc làm trống, các khoá đào tạo... giúp NLĐ, nhất là thanh niên, sinh viên lựa chọn và quyết định học nghề, tiếp cận việc làm phù hợp;

4) Nâng cao năng lực hệ thống Trung tâm DVVL trong tư vấn, giới thiệu việc làm cho NLĐ và định hướng nghề nghiệp cho học sinh, sinh viên; phối hợp hoạt động của Trung tâm với các cơ sở đào tạo, các doanh nghiệp; nâng tần suất phiên giao dịch việc làm, đa dạng hóa các hoạt động giao dịch việc làm, hướng tới tổ chức các hoạt động giao dịch việc làm phù hợp tại cơ sở; tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động DVVL;

5) Thực hiện có hiệu quả chính sách BHTN theo hướng cải cách thủ tục hành chính, tăng cường tư vấn, giới thiệu việc làm và đào tạo nâng cao tay nghề cho NLĐ khi thất nghiệp để sớm quay trở lại TTLĐ; tổ chức thực hiện hỗ trợ doanh nghiệp đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao trình độ kỹ năng nghề để duy trì việc làm cho NLĐ; mở rộng và phát triển đối tượng tham gia BHTN;

6) Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát và tuyên truyền, phổ biến việc thực hiện các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách của Nhà nước về việc làm nhằm nâng cao nhận thức về quyền và trách nhiệm. Cải cách hành chính, tăng cường phân cấp, nâng cao trách nhiệm của chính quyền địa phương trong quản lý Nhà nước về việc làm; thực hiện dân chủ, công khai, minh bạch về chính sách, chế độ đối với người dân.

                                                                                                     

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

Hotline
Thăm dò ý kiến

Bạn thấy website này như thế nào?

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây