Đánh giá kết quả 10 năm thực hiện công tác việc làm, quản lý lao động, thông tin thị trường lao động và định hướng thời gian tới

Thứ tư - 18/07/2018 05:28

1. Kết quả nổi bật đạt được

1.1. Về hoàn thiện hệ thống chính sách pháp luật về việc làm, thị trường lao động, BHTN và quản lý lao động

Trong 10 năm qua, Cục Việc làm đã tích cực, chủ động nghiên cứu, xây dựng, tham mưu trình Bộ trình các cấp có thẩm quyền ban hành nhiều chính sách góp phần hoàn thiện hệ thống pháp luật về việc làm, thị trường lao động (TTLĐ), Bảo hiểm thất nghiệp (BHTN) và quản lý lao động (QLLĐ), tạo hành lang pháp lý điều chỉnh các vấn đề về việc làm theo quy luật của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, thúc đẩy và bảo đảm việc làm theo hướng bền vững cho người lao động (NLĐ).

Ngoài phối hợp tham mưu trình Bộ Bộ luật Lao động số 10/2012/QH12 và các văn bản hướng dẫn, Cục Việc làm cũng đã tham mưu trình Bộ trình Chính phủ để trình Quốc hội khóa XIII, kỳ họp thứ 6 thông qua Luật Việc làm ngày 16/11/2013 (Luật số 38/2013/QH13). Lần đầu tiên Việt Nam có một văn bản luật quy định đầy đủ, điều chỉnh các quan hệ về việc làm và TTLĐ, là cơ sở pháp lý quan trọng nhằm tạo cơ hội việc làm theo hướng bền vững cho mọi lao động trong xã hội, quyết tâm phấn đấu giải quyết các vấn đề xã hội ngay trong quá trình đổi mới, phát triển và hội nhập.

Trên cơ sở các quy định của pháp luật về việc làm, TTLĐ, BHTN và QLLĐ, Cục Việc làm đã tham mưu trình Bộ trình Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành nhiều cơ chế, chính sách về hỗ trợ tạo và tự tạo việc làm cho NLĐ, nhất là nhóm lao động yếu thế như chính sách việc làm công; chính sách hỗ trợ đào tạo nghề, giải quyết việc làm cho NLĐ bị thu hồi đất; chính sách vay vốn tín dụng ưu đãi tạo việc làm từ Quỹ quốc gia về việc làm; chính sách hỗ trợ tạo việc làm cho thanh niên, phụ nữ nghèo nông thôn, người khuyết tật, người dân tộc thiểu số; chính sách hỗ trợ tạo việc làm cho người chấp hành xong án phạt tù; cơ chế, chính sách về BHTN, TTLĐ, tăng cường công tác QLLĐ nói chung và công tác QLLĐ nước ngoài nói riêng, góp phần ổn định xã hội, an sinh xã hội và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế.

Cụ thể, trong giai đoạn 2008-2018, Cục Việc làm đã tham mưu trình Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, trình Bộ ban hành 01 Nghị quyết, 13 Nghị định, 10 Quyết định Thủ tướng Chính phủ, 21 Thông tư, 09 Thông tư liên tịch và 01 Chỉ thị của Ban Bí thư, trong đó:

- Lĩnh vực Việc làm: có 02 Nghị định, 03 Quyết định Thủ tướng Chính phủ, 05 Thông tư, 02 Thông tư liên tịch;

- Lĩnh vực TTLĐ: có 01 Nghị quyết, 03 Nghị định, 04 Quyết định của Thủ tướng Chính phủ, 03 Thông tư;

- Lĩnh vực BHTN: có 03 Nghị định, 02 Quyết định của Thủ tướng Chính phủ, 03 Thông tư, 05 Thông tư liên tịch; lĩnh vực QLLĐ có 01 Chỉ thị của Ban Bí thư, 05  Nghị định, 01 Quyết định của Thủ tướng, 10 Thông tư, 02 Thông tư liên tịch.

Bên cạnh đó, Cục Việc làm còn tham mưu cho Lãnh đạo Bộ xây dựng các văn bản gửi Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố chỉ đạo các cơ quan ban ngành địa phương thực hiện các văn bản hướng dẫn của Bộ, Cục cũng đã xây dựng các văn bản chỉ đạo hướng dẫn các địa phương triển khai thực hiện các chính sách về lĩnh vực Việc làm, TTLĐ, BHTN và QLLĐ.

1.2. Xây dựng và tổ chức thực hiện các Chương trình, Đề án hỗ trợ tạo việc làm

Song song với việc tham mưu trình ban hành các chính sách pháp luật về việc làm, TTLĐ, BHTN và QLLĐ, Cục Việc làm cũng đã trực tiếp xây dựng và tham gia xây dựng trình Bộ, trình Thủ tướng Chính phủ ban hành và chỉ đạo, hướng dẫn tổ chức thực hiện nhiều Chương trình, Đề án nhằm đẩy mạnh hỗ trợ tạo việc làm cho NLĐ như:    

- Chương trình mục tiêu quốc gia về việc làm qua các giai đoạn (giai đoạn 2006-2010, 2011-2015),

- Chương trình mục tiêu giáo dục nghề nghiệp - việc làm và an toàn lao động giai đoạn 2016-2020;

- Đề án hỗ trợ phụ nữ, thanh niên học nghề và tạo việc làm giai đoạn 2008-2015;

- Đề án xác định thiệt hại, thực hiện bồi thường, hỗ trợ; khôi phục sản xuất và đảm bảo an sinh xã hội cho người dân bị ảnh hưởng do sự cố môi trường biển tại các tỉnh Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị và Thừa Thiên Huế…

1.3. Triển khai thực hiện các hoạt động nhằm vận hành có hiệu quả TTLĐ

Để hoàn thiện và vận hành có hiệu quả TTLĐ, đảm bảo và hạn chế tối đa mất cân đối cung, cầu lao động trên TTLĐ, từ năm 2008 đến nay Cục Việc làm đã phối hợp với các cơ quan để hướng dẫn, chỉ đạo, thực hiện các hoạt động, cụ thể như sau:

- Triển khai các hoạt động thu thập thông tin thông qua điều tra nhu cầu sử dụng lao động trong các doanh nghiệp, khảo sát, ghi chép cập nhật cung, cầu lao động, phân tích, tổng hợp dữ liệu từ các cuộc điều tra về lao động, việc làm. Trên cơ sở đó, Cục đã xây dựng các báo cáo xu hướng việc làm, các bản tin cập nhật về TTLĐ, giúp các cơ quan quản lý nhà nước có cơ sở để hoạch định chính sách, các cơ sở đào tạo xây dựng kế hoạch đào tạo và tuyển sinh phù hợp, người sử dụng lao động và NLĐ nắm bắt được nguồn cung, cầu lao động hiện có trên thị trường và xu hướng tuyển dụng lao động.

- Hỗ trợ NLĐ và các cơ sở sản xuất kinh doanh tạo việc làm thông qua việc vay vốn từ Quỹ quốc gia về việc làm. Giai đoạn 2008-2017, ước cả nước hỗ trợ tạo việc làm thông qua Quỹ quốc gia về việc làm cho hơn 1 triệu lao động. Khuyến khích cơ quan, tổ chức và doanh nghiệp nhận lao động yếu thế là người khuyết tật vào làm việc, đến nay có gần 240 ngàn lao động là người khuyết tật có việc làm ổn định.

- Tổ chức thực hiện chính sách BHTN nhằm giúp NLĐ thất nghiệp sớm tìm kiếm việc làm, đồng thời bù đắp một phần thu nhập cho NLĐ khi bị thất nghiệp. Hiện cả nước có khoảng 11,26 triệu người tham gia BHTN chiếm 20,5% lực lượng lao động cả nước; số người nộp hồ sơ hưởng trợ cấp thất nghiệp là 680.310 người, tăng 14,8% so với cùng kỳ năm 2016 (592.440 người), số có quyết định hưởng trợ cấp thất nghiệp là 671.789 người, tăng 14,6% so với cùng kỳ năm 2016 (586.254 người), tổng số lượt người được tư vấn, giới thiệu việc làm là 1.113.934 lượt người, tăng 22,4% so với cùng kỳ năm 2016, số người được hỗ trợ học nghề là 34.723 người, tăng 21,7% so với cùng kỳ năm 2016 (28.537 người); từ năm 2008 đến hết năm 2017, Trung tâm Dịch vụ việc làm (DVVL) các tỉnh, thành phố đã tư vấn, giới thiệu việc làm cho 4 triệu lượt người và hỗ trợ học nghề cho 123 nghìn NLĐ đang hưởng trợ cấp thất nghiệp;

- Tập trung phát triển và hình thành hệ thống các Trung tâm DVVL nhằm tăng cường kết nối cung - cầu lao động, rút ngắn thời gian tìm việc của NLĐ, thời gian tuyển dụng của người sử dụng lao động, giảm tỷ lệ thất nghiệp thành thị, tăng tỷ lệ sử dụng thời gian lao động nông thôn, góp phần tăng trưởng và giải quyết việc cho NLĐ. Giai đoạn 2008-2017, số lao động tìm kiếm việc làm, số doanh nghiệp tuyển dụng lao động qua hệ thống các Trung tâm đều tăng qua các năm, cho thấy hiệu quả hoạt động DVVL ngày càng phát huy vai trò của mình trong việc kết nối cung cầu lao động, góp phần giải quyết việc làm cho lao động ở mỗi địa phương. Giai đoạn 2008-2017: Tổng số lao động được tư vấn, giới thiệu việc làm là 18.780.000 lượt người, trong đó số lao động nhận được việc làm do Trung tâm giới thiệu và cung ứng là 5.113.455 lượt người, chiếm 27,2% tổng số người được tư vấn, giới thiệu việc làm.

- Hướng dẫn cấp phép và quản lý các doanh nghiệp hoạt động DVVL, doanh nghiệp cho thuê lại lao động, tạo sự linh hoạt trong việc cung ứng và sử dụng lao động, phù hợp với xu thế tất yếu của TTLĐ. Đồng thời, chỉ đạo hệ thống Trung tâm DVVL phối kết hợp với các doanh nghiệp hoạt động DVVL, các doanh nghiệp cho thuê lại lao động để chia sẻ, kết nối thông tin nhằm nâng cao hiệu quả các hoạt động DVVL.

Với các hoạt động triển khai thời gian qua, TTLĐ cũng đã có những chuyển biến tích cực. Giai đoạn 2009-2016: tỷ lệ thất nghiệp giảm từ 3,2% xuống còn 2,1%; số NLĐ có việc làm từ 47,744 triệu người tăng lên 53,303 triệu người; tỷ lệ lao động làm việc trong lĩnh vực nông nghiệp giảm từ 51,54% xuống còn 41,9%;

1.4. Hệ thống Trung tâm DVVL đã trở thành cầu nối tin cậy giữa NLĐ, người sử dụng lao động; là kênh thông tin TTLĐ hữu hiệu cho các cơ quan, đơn vị tổ chức, vận hành TTLĐ

Từ năm 2008 đến nay, Cục Việc làm đã tham mưu trình các cấp các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của hệ thống Trung tâm DVVL nhằm tăng cường kết nối cung - cầu lao động, rút ngắn thời gian tìm việc của NLĐ, thời gian tuyển dụng của người sử dụng lao động, giảm tỷ lệ thất nghiệp thành thị, tăng tỷ lệ sử dụng thời gian lao động nông thôn, góp phần tăng trưởng và giải quyết việc cho NLĐ.

- Tập trung đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị, đào tạo cán bộ nhằm nâng cao năng lực hệ thống các Trung tâm DVVL, đặc biệt là 63 Trung tâm DVVL thuộc ngành Lao động - Thương binh và Xã hội. Về cơ bản, các Trung tâm DVVL ngành Lao động - Thương binh và Xã hội đã được đầu tư cơ bản, đủ điều kiện để thực hiện các hoạt động tư vấn, giới thiệu việc làm, dạy nghề thông thường; thực hiện các chính sách, chương trình điều tiết TTLĐ ở địa phương như chính sách TTLĐ chủ động (thông tin TTLĐ, tư vấn, chắp nối việc làm, hỗ trợ đào tạo nghề, hỗ trợ duy trì việc làm, hỗ trợ việc làm cho người khuyết tật, người dân tộc thiểu số,...); chính sách TTLĐ bị động (đăng ký, chi trả trợ cấp thất nghiệp), hỗ trợ tuyển và QLLĐ Việt Nam làm việc cho các tổ chức nước ngoài tại Việt Nam,...

- Tổ chức các hoạt động giới thiệu việc làm, cung ứng và tuyển lao động gắn liền với hoạt động tư vấn. Giai đoạn 2008-2017, theo báo cáo từ các sở Lao động - Thương binh và Xã hội và Trung tâm DVVL các tỉnh, thành phố, số lao động tìm kiếm việc làm, số doanh nghiệp tuyển dụng lao động qua hệ thống các Trung tâm đều tăng qua các năm, cho thấy hiệu quả hoạt động DVVL ngày càng phát huy vai trò của mình trong việc kết nối cung cầu lao động, góp phần giải quyết việc làm cho lao động ở mỗi địa phương. Giai đoạn 2008-2017: Tổng số lao động được tư vấn, giới thiệu việc làm là 18.780.000 lượt người, trong đó số lao động nhận được việc làm do Trung tâm giới thiệu và cung ứng là 5.113.455 lượt người, chiếm27,2% tổng số người được tư vấn, giới thiệu việc làm.

Hoạt động giới thiệu việc làm, cung ứng và tuyển lao động cũng được tăng cường tính hiệu quả hơn thông qua hoạt động giao dịch việc làm (GDVL) của các sàn GDVL. Hiện nay, cả nước có 48 địa phương tổ chức sàn GDVL. Trong giai đoạn 2008-2017, trên toàn quốc đã tổ chức được 7.642 phiên GDVL. Các phiên GDVL được tổ chức với tần suất ngày càng tăng, số doanh nghiệp tham gia trung bình trong một phiên GDVL khoảng 25-30 doanh nghiệp; số NLĐ tham gia trong một phiên giao dịch khoảng 400-450 lao động, trong đó số lao động được sơ tuyển trong một phiên GDVL khoảng 200-230 lao động. Thông qua hoạt động của sàn GDVL, các Trung tâm đã tạo môi trường thuận lợi để NLĐ và người sử dụng lao động trực tiếp gặp gỡ, phỏng vấn và tuyển dụng;

- Đã kết nối 64 website của các Trung tâm DVVL thuộc ngành Lao động - Thương binh và Xã hội trên toàn quốc tại Cổng thông tin điện tử việc làm Việt Nam (vieclamvietnam.gov.vn), tạo thành hệ thống và chia sẻ thông tin việc làm trống và thông tin người tìm việc giữa các địa phương. Đến thời điểm này, đã có hơn 213 triệu lượt truy cập cổng thông tin việc làm, bình quân 150 ngàn lượt truy cập mỗi ngày. Website thường xuyên đăng tải thông tin việc làm trống của hơn 70.000 doanh nghiệp và thông tin tìm việc hơn 38.000 người. Thông tin về việc làm trống và người tìm việc luôn được cập nhật hàng ngày.

1.5. Triển khai thực hiện các hoạt động nhằm nâng cao hiệu quả công tác QLLĐ nói chung và công tác QLLĐ nước ngoài làm việc tại Việt Nam nói riêng

Để nâng cao hiệu quả công tác QLLĐ nói riêng và công tác QLLĐ nước ngoài làm việc tại Việt Nam nói riêng, từ năm 2008 đến nay Cục Việc làm đã phối hợp với các cơ quan để hướng dẫn, chỉ đạo, thực hiện các hoạt động, cụ thể như sau:

- Đẩy mạnh tuyên truyền, hướng dẫn và phổ biến các quy định pháp luật về QLLĐ, đặc biệt liên quan đến lao động nước ngoài làm việc tại Việt Nam với nhiều hình thức phù hợp, thiết thực.

- Rà soát, hoàn thiện quy chế phối hợp giữa các cơ quan trong việc chia sẻ thông tin và QLLĐ nước ngoài. Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra và xử lý nghiêm các trường hợp cố tình vi phạm pháp luật Việt Nam liên quan đến NLĐ nước ngoài.

- Tổ chức thẩm định chặt chẽ nhu cầu sử dụng lao động nước ngoài vào từng vị trí công việc mà lao động Việt Nam không đáp ứng được theo yêu cầu sản xuất kinh doanh, đảm bảo sử dụng có hiệu quả lao động nước ngoài và đảm bảo việc làm cho lao động Việt Nam; chỉ cấp giấy phép lao động cho NLĐ nước ngoài vào làm việc tại các vị trí công việc không tuyển được NLĐ Việt Nam.

- Hướng dẫn các địa phương tăng cường công tác đào tạo, huấn luyện kỹ năng, ý thức thái độ và tác phong làm việc của NLĐ Việt Nam, tạo nguồn giới thiệu, cung ứng lao động cho các doanh nghiệp, nhà thầu trên địa bàn.

- Thường xuyên rà soát, báo cáo theo quy định hiện hành về tình hình lao động nước ngoài đang làm việc trên địa bàn đặc biệt là các đối tượng làm việc trái phép (nếu có) và kiến nghị biện pháp chấn chỉnh phù hợp, hiệu quả.

- Xây dựng cổng thông tin điện tử http://dvc.vieclamvietnam.gov.vn  để thực hiện cấp giấy phép lao động nước ngoài làm việc tại Việt Nam trực tuyến, kết nối với Cổng Thông tin điện tử Quốc gia.

2. Định hướng hoạt động trong thời gian tới

1) Tiếp tục hoàn thiện thể chế, chính sách về việc làm, TTLĐ, BHTN và QLLĐ phù hợp với định hướng phát triển KT-XH của đất nước trong bối cảnh hội nhập: nghiên cứu sửa đổi Luật Việc làm theo hướng phù hợp với thực tiễn và từng bước đáp ứng, tuân thủ các Công ước, tiêu chuẩn quốc tế mà Việt Nam tham gia.

2) Nghiên cứu, xây dựng và tổ chức thực hiện các chính sách nhằm hỗ trợ, khuyến khích doanh nghiệp sử dụng lao động lớn tuổi, nhất là trong bối cảnh tác động của cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 và xu hướng già hóa dân số của Việt Nam.

3) Xây dựng và tổ chức thực hiện các Chương trình, đề án hỗ trợ tạo việc làm cho các đối tượng yếu thế như lao động nghèo nông thôn, lao động là người khuyết tật, lao động là người dân tộc thiểu số, lao động di cư...

4) Đẩy mạnh tuyên truyền, hướng dẫn và phổ biến các quy định pháp luật về việc làm, TTLĐ, BHTN và QLLĐ với nhiều hình thức phù hợp và thiết thực.

5) Tăng cường hoạt động thông tin TTLĐ, tư vấn, giới thiệu việc làm của các tổ chức DVVL trên địa bàn để hỗ trợ kết nối việc làm cho NLĐ Việt Nam và doanh nghiệp, tổ chức, nhà thầu.

6) Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra và xử lý nghiêm các trường hợp cố tình vi phạm pháp luật các quy định về việc làm, TTLĐ, BHTN và QLLĐ, đặc biệt là đối với người nước ngoài làm việc trong các nhà thầu./.

 

Cục Việc làm

Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

Hotline
Thăm dò ý kiến

Bạn thấy website này như thế nào?

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây