ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN HỆ THỐNG GIÁO DỤC NGHỀ NGHIỆP MỞ LINH HOẠT Ở VIỆT NAM

Thứ tư - 17/10/2018 16:14

đề xuất giải pháp phát triển hệ thống giáo dục nghề nghiệp mở linh hoạt ở việt nam

TS. Ngô Phan Anh Tuấn - Khoa Quản lý giáo dục Trường Cán bộ quản lý giáo dục TP. Hồ Chí Minh

1. Đặt vấn đề

Giáo dục nghề nghiệp (GDNN) có sứ mệnh đào tạo khoảng 70% nhân lực cho đất nước. Trong những năm qua, được sự quan tâm của Đảng và nhà nước, GDNN đã phát triển mạnh mẽ ở nước ta, tuy nhiên còn nhiều bất cập như: Đào tạo chưa gắn với nhu cầu của thị trường lao động, với việc làm, dẫn đến tình trạng hàng năm có hàng vạn học sinh/ sinh viên (HS/SV) tốt nghiệp không tìm được việc làm, trong khi các doanh nghiệp cần nhân lực lại không tuyển dụng được lao động; Tổ chức quá trình đào tạo theo chương trình khung cứng nhắc, chưa liên thông giữa các trình độ và đang đào tạo theo niên chế nên chưa tạo thuận lợi cho người lao động có thể cần gì học nấy, học suốt đời.

Để đổi mới GDNN, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội đã xây dựng và đang lấy ý kiến vào dự thảo đề án “Đổi mới và nâng cao chất lượng GDNN giai đoạn 2016-2020” nhằm tạo ra sự đột phá về chất lượng đào tạo GDNN đặc biệt là đào tạo chất lượng cao và xây dựng hệ thống GDNN mở, linh hoạt nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho mọi đối tượng người học.

Tuy nhiên, hiện nay ở Việt Nam vẫn chưa có định nghĩa chính thức nào về hệ thống GDNN mở, linh hoạt, chưa cụ thể hóa cho rõ nghĩa là hệ thống GDNN “mở, linh hoạt” có những đặc trưng nào và cấu trúc của nó ra sao? Khái niệm này vẫn được hiểu khá cảm tính, chưa chắc chắn, chưa đầy đủ cơ sở khoa học, và do đó xuất hiện các quan niệm khác nhau, khi giải thích về nó.

Trong phạm vi bài viết, tác giả đưa ra một số khái niệm, đặc trưng, cấu trúc và tính tất yếu của hệ thống GDNN mở, linh hoạt, cũng như xu hướng phát triển của nó trong bối cảnh Cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 (CMCN 4.0) đã và đang diễn ra. Đánh giá một cách khái quát về thực trạng hệ thống GDNN mở, linh hoạt ở Việt Nam hiện nay. Từ đó, đề xuất các giải pháp phát triển GDNN mở và linh hoạt ở Việt Nam theo tinh thần Nghị quyết số 29-NQ/TW là “Đổi mới hệ thống giáo dục theo hướng mở, linh hoạt, liên thông giữa các bậc học, trình độ và giữa các phương thức giáo dục, đào tạo. Chuẩn hoá, hiện đại hóa giáo dục và đào tạo”.

2. Hệ thống giáo dục nghề nghiệp mở, linh hoạt

2.1. Một số khái niệm có liên quan

2.1.1. Học tập mở và học tập linh hoạt:

* Học tập mở (Open learning): Thuật ngữ học tập mở mô tả một loạt các sắp xếp học tập và việc loại bỏ các rào cản trong việc tham gia cũng như trách nhiệm người học trong việc xác định địa điểm, thời gian học tập, những gì họ cần học, cách họ học và cách họ được đánh giá (Scriven, 1991, tr.5).

* Học tập linh hoạt (Flexible learning): Học tập linh hoạt nhằm đáp ứng nhu cầu của người học mà không phụ thuộc vào địa điểm, thời gian và cách thức chuyển giao nội dung học tập. Học tập linh hoạt được mở rộng ranh giới hoạt động tuyển sinh, tốc độ, phương thức phân phối, thời gian, địa điểm học tập và công nhận tốt nghiệp, làm cho việc cung cấp dịch vụ phù hợp hơn với nhu cầu của những người học khác nhau. Một số cơ chế của học tập linh hoạt bao gồm mô đun hóa, tích lũy tín chỉ, công nhận kết quả học tập trước đây, học tập mở và học tập từ xa,… [10].

Mối quan hệ giữa học tập mở, linh hoạt với một số hình thức học tập khác:

Trong hình 1 dưới đây mô tả mối quan hệ giữa học tập kết hợp với học tập linh hoạt, học tập điện tử và học tập trực tuyến theo quan điểm thị trường.

17 10 h1

Hình 1: Mối quan hệ giữa học tập linh hoạt/học tập kết hợp học tập điện tử và học trực tuyến theo quan điểm thị trường.

Nguồn: Mitchell Wood (2001)

Xu hướng thị trường trong lĩnh vực sản phẩm và dịch vụ trực tuyến của GDNN cho thấy người học ít quan tâm đến việc tập trung vào học tập trực tuyến và học tập điện tử hơn là học tập kết hợp/học tập linh hoạt. Học tập trực tuyến (internet và mạng nội bộ), CD-ROMS và các công nghệ khác liên quan đến việc truy cập các dịch vụ trực tuyến được cải thiện, điều chỉnh, dẫn đến kết quả học tập của HS/SV được cải thiện [11; tr 20].

2.1.2. Hệ thống giáo dục nghề nghiệp mở, linh hoạt:

- Theo Wikipedia: “Giáo dục mở là giáo dục không đòi hỏi bằng cấp khi nhập học và được cung ứng chủ yếu theo cách học trực tuyến. Giáo dục mở mở rộng khả năng tiếp cận GD-ĐT vốn được cung ứng qua các hệ thống giáo dục chính quy. Tính ngữ “mở” trong giáo dục mở nhằm nói tới việc dỡ bỏ các rào cản gây khó khăn cho người học về cơ hội cũng như về công nhận kết quả học tập tại cơ sở giáo dục”.

- Trong báo cáo “Mở cửa giáo dục: về một khung hỗ trợ các cơ sở giáo dục đại học” (năm 2016), giáo dục mở được quan niệm là một phương thức giáo dục, thường được thực hiện thông qua các công nghệ số. “Mục đích của nó là mở rộng sự tiếp cận và tham dự thành công cho mọi người bằng cách dỡ bỏ các rào cản, làm cho việc học nằm trong tầm tay, phong phú và tùy chỉnh theo nhu cầu cá nhân. Nó cung cấp nhiều cách thực dạy và học, tạo dựng và chia sẻ tri thức. Nó cùng đem lại nhiều con đường đến với giáo dục chính quy, không chính quy và kết nối cả hai”. Định nghĩa này hiện được chấp nhận rộng rãi bởi nó không chỉ cho biết thế nào là giáo dục mở mà còn chỉ ra mục đích của giáo dục mở.

- Theo tác giả Bùi Mạnh Nhị: “Hệ thống giáo dục mở là hệ thống giáo dục linh hoạt, liên thông giữa các yếu tố bên trong của hệ thống như: nội dung, chương trình, phương pháp, phương thức, thời gian, không gian, chủ thể giáo dục... và liên thông với môi trường bên ngoài hệ thống, bảo đảm tính sáng tạo cho việc xây dựng, tổ chức các nội dung, hình thức giáo dục. Tạo cơ hội tiếp cận giáo dục cho mọi người, đồng thời tận dụng các nguồn lực cho giáo dục và bảo đảm tính hiệu quả, phát triển bền vững của hệ thống giáo dục”.

- Từ những quan điểm trên có thể đưa ra khái niệm: “Hệ thống GDNN mở, linh hoạt là hệ thống GDNN tạo ra cơ hội phát triển chương trình đào tạo, tạo cơ hội học tập phù hợp cho mọi người học có nhu cầu, không phân biệt lứa tuổi, trình độ học vấn và nghề nghiệp, địa vị xã hội, giới tính trong mọi thời gian khác nhau và không gian khác nhau. Nhờ đó, việc học tập của con người có điều kiện để thực hiện không ngừng suốt đời”.

2.2. Tính tất yếu của hệ thống giáo dục nghề nghiệp mở, linh hoạt

Hệ thống GDNN mở, linh hoạt và từ xa đã và đang phát triển bởi vì người học nhận thức được lợi ích của nó:

- Đầu tiên là lợi ích kinh tế: Việc xây dựng trường học là không thật sự cần thiết, giáo viên, giảng viên và nhà quản trị GDNN có thể quản lý số HS/SV nhiều lần hơn so với số HS/SV có thể chứa trong một trường học hoặc lớp học.

- Ưu điểm chính thứ hai là tính linh hoạt: Người học vừa có thể đi làm vừa có thể đi học theo khung thời gian riêng của họ, trong chính ngôi nhà của họ, mà không ảnh hưởng đến công việc làm của họ trong thời gian dài.

- Lợi thế thứ ba là nó có thể hoạt động trên một khoảng cách rất xa và phục vụ rộng rãi cho số lượng lớn người học rải rác khắp nơi: Các quốc gia đang phát triển đã sử dụng học tập mở, linh hoạt và từ xa để giúp giải quyết vấn đề của họ về nguồn nhân lực, cách tiếp cận, chất lượng và số lượng lao động và sự vận hành GDNN trong điều kiện ngân sách còn hạn chế nhưng lại mở rộng cửa cho người học mới được tham gia [10; tr 2].

Nhiều nhà dự báo đã cho rằng với tốc độ phát triển của KHCN như hiện nay, mỗi người lao động sẽ phải đổi nghề trung bình khoảng 4-5 lần trong quãng đời lao động của mình. Trong bối cảnh đó, khái niệm tốt nghiệp một chương trình đào tạo nào đó, với những kiến thức và kỹ năng có được, cứ thế mà lao động suốt đời đã không còn phù hợp. Mỗi người lao động cần được bồi dưỡng thường xuyên hoặc được đào tạo lại để có thể thích ứng với những thay đổi công nghệ hoặc để có thể đổi nghề khi cần thiết [1].

Trong cuộc CMCN 4.0, hệ thống GDNN sẽ bị tác động mạnh mẽ và toàn diện, danh mục ngành nghề đào tạo sẽ phải điểu chỉnh, cập nhật liên tục vì các ranh giới giữa các lĩnh vực rất mỏng manh. Những khái niệm phòng học ảo, thầy giáo ảo, thiết bị ảo sẽ trở thành xu hướng trong hoạt động đào tạo nghề nghiệp trong thời gian tới. Đây cũng chính là lý do thúc đẩyxây dựng hệ thống GDNN mở, linh hoạt nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho mọi đối tượng người học [3].

2.3. Các đặc trưng của hệ thống giáo dục nghề nghiệp mở, linh hoạt

Theo Judith Caldar và Ann Mccollum, một khung học tập mở, linh hoạt bao gồm năm đặc điểm chính như sau: Đáp ứng nhu cầu học tập cá nhân; Giúp HS/SV chịu trách nhiệm nhiều hơn trong học tập; Sử dụng các nguồn lực có hiệu quả hơn; Chấp nhận có sự khác biệt trong các hình thức học tập; Hỗ trợ phát triển và hỗ trợ nhân viên [12].

Theo nhiều nhà chiến lược giáo dục, hệ thống GDNN mở, linh hoạt có những đặc điểm như sau:

- Tạo sự thuận tiện trong việc chuyển trường cũng như chuyển từ chương trình đào tạo này sang một chương trình đào tạo khác hoặc chuyển từ một chuyên ngành đào tạo này sang một chuyên ngành đào tạo khác. Nhờ vậy mọi người có thể dễ dàng theo học chương trình phù hợp nhất tùy thuộc vào sở thích và năng lực của từng cá nhân.

- Tạo ra một hệ thống ngân hàng module, tín chỉ có nhiệm vụ tích lũy các module, tín chỉ mà người học đạt được trong tiến trình học tập của mình.

Sử dụng công nghệ thông tin và truyền thông để mọi người có thể dễ dàng tiếp cận được các chương trình đào tạo của hệ thống GDNN.

- Tính mở và linh hoạt của hệ thống GDNN cùng với vai trò quan trọng của công nghệ thông tin - truyền thông và trí tuệ nhân tạo (AI) cũng là hai đặc điểm cơ bản của nền giáo dục trong thời kỳ CMCN 4.0.

2.4. Các yếu tố của hệ thống giáo dục nghề nghiệp mở, linh hoạt

Hệ thống GDNN mở, linh hoạt là một hệ thống khá phức tạp, nó được thể hiện dưới dạng bốn yếu tố chính là: Công nghệ (Technology), Phương pháp sư phạm (Pedagogy), Chiến lược thực hiện (Implementation)và Khung thể chế (Institution). Chúng ta có thể hình dung mối quan hệ giữa bốn yếu tố thông qua sơ đồ trong hình 2.

Kích thước của 04 hình khác nhau chỉ ra một cách tổng quát độ phức tạp và số lượng các yếu tố cấu thành của hệ thống. Sự lồng nhau của các hình chỉ ra mối quan hệ của chúng. Sử dụng các yếu tố thể hiện trong hình này có trình tự khác nhau có thể được sử dụng để mô tả các hoạt động học tập mở, linh hoạt được điều khiển và thực hiện trong GDNN như thế nào. Cách tiếp cận phổ biến là từ trên xuống hoặc từ dưới lên. Từ góc nhìn từ trên xuống, chúng ta nên bắt đầu với khung thể chế, tiếp đó là chiến lược thực hiện, sau đó phương pháp sư phạm, và cuối cùng là công nghệ; Để tiếp cận từ dưới lên, chúng ta nên bắt đầu với công nghệ và di chuyển qua các cấp độ ngày càng phức tạp hơn. Thông thường người ta lựa chọn cách tiếp cận từ trên xuống [9; tr 4].
17 10 h2

Hình 2. Các yếu tố chủ yếu của hệ thống GDNN mở, linh hoạt

(Nguồn Betty callis jef moonen, 2002) [9]

3. Khái quát thực trạng hệ thống giáo dục nghề nghiệp mở, linh hoạt ở Việt Nam hiện nay

3.1. Những việc làm được

3.1.1. Về khung thể chế (Institution):

- Nghị quyết Hội nghị lần thứ 8, Ban Chấp hành Trung ương khóa XI (Nghị quyết số 29-NQ/TW) về đổi mới căn bản, toàn diện GD-ĐT, đáp ứng yêu cầu CNH, HĐH trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế. Trong đó có quan điểm chỉ đạo: “Đổi mới hệ thống giáo dục theo hướng mở, linh hoạt, liên thông giữa các bậc học, trình độ và giữa các phương thức GD-ĐT”.

- Điều 6 Luật GDNN quy định về chính sách của Nhà nước về phát triển GDNN như sau: “Phát triển hệ thống GDNN mở, linh hoạt, đa dạng theo hướng chuẩn hóa, hiện đại hóa, dân chủ hóa, xã hội hóa và hội nhập quốc tế, liên thông giữa các trình độ GDNN và liên thông với các trình độ đào tạo khác”.

- Nghị định số 48/2015/NĐ-CP ngày 15/5/2015 Quy định chi tiết một số điều của Luật GDNN; Nghị định số 16/2015/NĐ-CP ngày 14/02/2015 của chính phủ quy định cơ chế tự chủ của đơn vị sự nghiệp công lập; Nghị định số 86/2015/NĐ-CP ngày 02/10/2015 quy định về cơ chế thu, quản lý học phí đối với cơ sở giáo dục thuộc hệ thống giáo dục quốc dân đã tác động mạnh mẽ đến hoạt động tự chủ của các cơ sở GDNN.

- Thông tư số 42/2015/TT-BLĐTBXH ngày 20/10/2015 về Quy định về đào tạo nghề thường xuyên... [7].

3.1.2. Về chiến lược thực hiện (Implementation):

Cùng với tổ chức GDNN theo truyền thống (niên chế), Luật GDNN cũng bổ sung thêm phương thức tổ chức đào tạo nghề mới là đào tạo nghề theo tích lũy module, tín chỉ. Đây được coi là một sự đổi mới căn bản, toàn diện nhất trong tổ chức, quản lý GDNN. Phương thức này tạo ra sự khác biệt cơ bản so với phương thức đào tạo theo niên chế (truyền thống). Theo phương thức này, hệ thống GDNN sẽ là hệ thống mở, linh hoạt, đảm bảo liên thông thuận lợi giữa các cấp trình độ đào tạo trong cùng nghề hoặc với các nghề khác hoặc liên thông lên trình độ cao hơn trong hệ thống giáo dục quốc dân; người học được coi là trung tâm của quá trình đào tạo, được học theo năng lực, điều kiện, hoàn cảnh của cá nhân, có thể học nhiều module, tín chỉ nội dung trong cùng thời gian và được công nhận theo hình thức tích lũy các năng lực; người học có thể học rút ngắn hoặc kéo dài thời gian học tập hoàn toàn phụ thuộc vào năng lực, điều kiện, hoàn cảnh của cá nhân người học. Thời gian học nghề theo tích lũy module, tín chỉ là thời gian tích lũy đủ số lượng module, tín chỉ quy định cho từng chương trình đào tạo (Điều 33). Về hình thức GDNN bao gồm cả chính quy và thường xuyên.

Hướng tới Nhà nước sẽ “cho phép phát triển thị trường đào tạo trực tuyến, cho phép các cơ sở GDNN có đủ năng lực có thể cung cấp các chương trình, môn học, module trực tuyến cho HS/SV tại các trường hoặc cho người dân từ công nhân tới thanh niên có nhu cầu học tích lũy module trực tuyến”. Việc này sẽ hình thành thị trường đào tạo trực tuyến, trong đó từng đơn vị sẽ có giải pháp đào tạo trực tuyến cho đơn vị mình và cung cấp cho cả thị trường GDNN”. Hiện nay Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội đang chỉ đạo xây dựng 6 môn học chung cho các bậc cao đẳng và trung cấp. Chủ trương của Bộ sẽ đưa 6 môn học này vào đào tạo trực tuyến, cho phép người học toàn quốc được học và thi các môn học này thông qua online. Việc này nhằm giảm thiểu chi phí đào tạo, tạo sự linh hoạt cho người học, và tạo sự thân thiện của người học với công nghệ thông tin. Ngoài ra, Bộ sẽ cho triển khai nhiều module đào tạo online khác như: tiếng Anh, tiếng Hàn, tiếng Nhật, kỹ năng, kiến thức nghề cơ bản để người học tại mọi nơi và mọi lúc có thể dễ dàng tiếp cận GDNN.

3.1.3. Về phương pháp sư phạm (Pedagogy):

Theo Luật GDNN, người học có thể học theo hình thức vừa học vừa làm, tự học có hướng dẫn hoặc học từ xa để lấy chứng chỉ sơ cấp, bằng tốt nghiệp trung cấp hoặc bằng tốt nghiệp cao đẳng (Mục 1, 2 Chương 3); Về tuyển sinh, các trường được tự chủ xác định quy mô, chỉ tiêu tuyển sinh hàng năm; được tuyển sinh nhiều lần trong năm; được xét tuyển hoặc thi tuyển hoặc kết hợp cả hai (Điều 32); Về chương trình, giáo trình, các trường được tự chủ trong việc xây dựng chương trình đào tạo dựa trên tiêu chuẩn kỹ năng nghề; Nhà nước không ban hành chương trình khung. Cơ sở GDNN được lựa chọn chương trình của nước ngoài đã được kiểm định để giảng dạy; được lựa chọn giáo trình đã có làm giáo trình của trường mình (Điều 34, Điều 35); Về thi, xét tốt nghiệp, thi tốt nghiệp chỉ áp dụng cho đào tạo theo niên chế. Người học theo module, tín chỉ, sau khi tích lũy đủ module hoặc tín chỉ theo quy định thì được xét tốt nghiệp (không phải thi tốt nghiệp cuối khóa) (Điều 38).

Cũng theo Luật GDNN, cơ sở GDNN được nâng cao tính tự chủ, tự chịu trách nhiệm hơn so với trước đây, cụ thể: Tự chủ xác định chỉ tiêu tuyển sinh hàng năm; Tuyển dụng, sử dụng, quản lý nhà giáo, cán bộ, nhân viên, tự quyết định số người làm việc và quyết đinh trả lương theo hiệu quả, chất lượng công việc; Tự chịu trách nhiệm tổ chức biên soạn và duyệt chương trình đào tạo, giáo trình đào tạo; Tự chịu trách nhiệm tổ chức thực hiện chương trình đào tạo theo niên chế hoặc tích lũy module, tín chỉ tùy thuộc vào điều kiện của từng cơ sở GDNN [7].

3.1.4. Về công nghệ (Technology):

- Hai trong các giải pháp tăng cường năng lực tiếp cận cuộc CMCN 4.0 trong Chỉ thị số 16/CT-TTg, ngày 04/5/2017 của Thủ tướng Chính phủ là: “Tập trung thúc đẩy phát triển, tạo sự bứt phá thực sự về hạ tầng, ứng dụng và nhân lực công nghệ thông tin - truyền thông. Phát triển hạ tầng kết nối số và bảo đảm an toàn, an ninh mạng tạo điều kiện cho người dân và doanh nghiệp dễ dàng, bình đẳng trong tiếp cận các cơ hội phát triển nội dung số” và “Thay đổi mạnh mẽ các chính sách, nội dung, phương pháp giáo dục và dạy nghề nhằm tạo ra nguồn nhân lực có khả năng tiếp nhận các xu thế công nghệ sản xuất mới”.

- Quyết định số 1982/QĐ-TTg, ngày 31/10/2014, phê duyệt Đề án “Ứng dụng CNTT trong quản lý hoạt động dạy và học nghề đến năm 2020”. Với mục tiêu chung là: “Ứng dụng công nghệ thông tin vào các hoạt động quản lý, dạy và học nghề bằng các công nghệ phần mềm tiên tiến trên thế giới; hiện đại hóa cơ sở hạ tầng thông tin theo hướng số hóa, mô phỏng hóa các máy móc, thiết bị dạy nghề tạo sự thay đổi căn bản, toàn diện về quản lý, dạy và học nghề theo hướng hiện đại; tạo đột phá về chất lượng đào tạo góp phần tăng năng lực cạnh tranh quốc gia và hội nhập với khu vực và quốc tế”. Đẩy mạnh hình thức đào tạo trực tuyến về công nghệ thông tin cho cán bộ, giáo viên và giảng viên; Đầu tư thiết bị đặc thù, phần mềm ứng dụng trong giảng dạy kiến thức và đào tạo kỹ năng nghề; trang bị đồng bộ về cơ sở hạ tầng, thiết bị công nghệ thông tin cho các trường phát triển thành trường nghề chất lượng cao; Tập trung về hạ tầng cơ sở, phần mềm ứng dụng, các thiết bị công nghệ số hóa và mô phỏng, hệ thống lưu trữ, quản lý dữ liệu, trung tâm quản lý, điều hành tổng thể về GDNN; quản lý, vận hành, duy trì hoạt động của hệ thống lưu trữ dữ liệu, trung tâm quản lý, điều hành tổng thể về GDNN; Mua, chuyển giao, tiếp nhận và sử dụng các thiết bị, học liệu, phần mềm mô phỏng theo công nghệ tiên tiến cho các nghề trọng điểm cấp độ khu vực ASEAN và quốc tế....

3.2. Những tồn tại, hạn chế

- Trong chiến lược phát triển dạy nghề giai đoạn 2011-2020 chưa xác định rõ quan điểm, mục tiêu, nhiệm vụ và giải pháp đào tạo nghề theo hướng mở và linh hoạt;

- Chưa có Chỉ thị riêng của Thủ tướng Chính phủ về việc đẩy mạnh xây dựng hệ thống GDNN mở và linh hoạt theo tinh thần của Nghị quyết số 29-NQ/TW và Điều 6 của Luật GDNN. Chưa xây dựng được một Đề án riêng về việc thực hiện xây dựng hệ thống GDNN mở và linh hoạt;

- Tổ chức quá trình đào tạo theo chương trình khung cứng nhắc, chưa liên thông giữa các trình độ, đào tạo theo niên chế nên chưa tạo thuận lợi cho người lao động có thể cần gì học nấy và học suốt đời. Chưa có đầy đủ các bộ tiêu chuẩn kỹ năng nghề quốc gia làm cho việc xác định chuẩn kiến thức, kỹ năng cho từng ngành, nghề tương ứng với các cấp trình độ đào tạo còn gặp nhiều khó khăn [1];

- Mạng lưới cơ sở GDNN còn chồng chéo, phân tán, trùng lắp ngành, nghề đào tạo; chưa hình thành được các trường chất lượng cao đạt trình độ quốc tế; chậm đổi mới cơ chế hoạt động của các cơ sở GDNN công lập;

- Hệ thống các cơ sở GDNN vẫn còn sức ỳ, chưa thay đổi theo kịp với yêu cầu. Tình trạng mất cân đối trong cơ cấu ngành nghề đào tạo, giữa các vùng miền chậm được khắc phục, chưa đáp ứng được nhu cầu nhân lực của xã hội;

- Chương trình đào tạo còn nhiều nội dung mang tính hình thức, chưa được thường xuyên cập nhật, bổ sung, sự kết hợp với các doanh nghiệp, người sử dụng lao động trong xây dựng, biên soạn chương trình, giáo trình chưa chặt chẽ; cách tiếp cận phương pháp dạy và học theo hướng tích cực, lấy người học làm trung tâm, chú trọng đến năng lực thực hiện chưa triển khai hiệu quả;

- Đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý cơ sở GDNN vừa thiếu số lượng vừa yếu về chất lượng và chưa được quan tâm phát triển đúng mức. Đặc biệt là các kiến thức, kỹ về năng quản lý và dạy học theo hướng mở, linh hoạt;

- Đầu tư cho GDNN chưa hiệu quả. Chính sách, cơ chế tài chính cho GDNN chưa phù hợp. Cơ sở vật chất kỹ thuật còn thiếu và lạc hậu, nhất là ở vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn. Việc thực hiện chủ trương xã hội hóa, các quy định về chính sách đối với GDNN còn rất hạn chế và chưa cụ thể [2].

3.3. Nguyên nhân

Những tồn tại hạn chế nêu trên xuất phát từ các nguyên nhân chủ yếu sau:

- Việc thể chế hóa các quan điểm, chủ trương của Đảng và Nhà nước về phát triển GDNN còn chậm và lúng túng. Việc xây dựng, tổ chức thực hiện chiến lược, kế hoạch và chương trình phát triển GDNN chưa đáp ứng yêu cầu của xã hội;

- Mục tiêu giáo dục toàn diện chưa được hiểu và thực hiện đúng. Bệnh hình thức, hư danh, chạy theo bằng cấp... chậm được khắc phục, có mặt nghiêm trọng hơn. Tư duy bao cấp còn nặng, làm hạn chế khả năng huy động các nguồn lực xã hội, nhất là của các doanh nghiệp đầu tư cho GDNN;

- Việc phân định giữa quản lý nhà nước với hoạt động quản trị trong các cơ sở GDNN chưa rõ. Công tác quản lý chất lượng, thanh tra, kiểm tra, giám sát chưa được coi trọng đúng mức. Sự phối hợp giữa các cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội và gia đình chưa chặt chẽ. Nguồn lực quốc gia và khả năng của phần đông gia đình đầu tư cho GDNN còn thấp so với yêu cầu;

- Tài chính chi cho Chương trình mục tiêu quốc gia cho GDNN có xu hướng giảm, chi thường xuyên cho GDNN thì không đổi, trong khi đó chi đầu tư xây dựng cơ bản có xu hướng tăng khá nhanh. Kinh phí phân bổ để thực hiện dự án thấp hơn nhiều so với kế hoạch đã được phê duyệt, nhất là vốn đầu tư, kinh phí từ ngân sách địa phương và các nguồn khác. Khiến cho việc triển khai các hoạt động gặp nhiều khó khăn, nhiều công việc chưa thể thực hiện và đạt mục tiêu nhiệm vụ đề ra [7].

4. Đề xuất giải pháp phát triển hệ thống giáo dục nghề nghiệp mở, linh hoạt ở Việt Nam

4.1. Hoàn thiện thể chế của hệ thống giáo dục nghề nghiệp theo hướng mở, linh hoạt, học tập suốt đời và xây dựng xã hội học tập

- Bổ sung quan điểm, mục tiêu, nhiệm vụ giải pháp phát triển hệ thống GDNN theo hướng mở và linh hoạt vào chiến lược phát triển GDNN;

- Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội cần tham mưu cho Thủ tướng Chính phủ ban hành Chỉ thị hoặc đề án về đẩy mạnh xây dựng hệ thống GDNN mở và linh hoạt theo tinh thần của Nghị quyết số 29-NQ/TW và Điều 6 của Luật GDNN;

- Xây dựng cơ sở dữ liệu quốc gia về GDNN. Hiện đại hóa hạ tầng công nghệ thông tin trong toàn bộ hệ thống phục vụ công tác quản lý và điều hành lĩnh vực GDNN. Đẩy mạnh xây dựng thư viện điện tử, hệ thống đào tạo trực tuyến; khuyến khích các cơ sở GDNN xây dựng phòng học đa phương tiện, phòng chuyên môn hóa; hệ thống thiết bị ảo mô phỏng, thiết bị thực tế ảo...

4.2. Tăng quyền tự chủ và trách nhiệm xã hội cho các cơ sở giáo dục nghề nghiệp

Sắp xếp, tổ chức lại mạng lưới cơ sở GDNN theo tinh thần Nghị quyết Trung ương 6, theo hướng mở và linh hoạt đáp ứng nhu cầu nhân lực của thị trường lao động. Hoàn thiện thể chế, cơ chế chính sách, từng bước giao tự chủ về tài chính cho các cơ sở GDNN, đây là bước quan trọng để xã hội hóa GDNN. Thực hiện lộ trình tự chủ đối với các cơ sở GDNN và có cơ chế tài chính phù hợp để huy động mọi nguồn lực xã hội đầu tư cho GDNN; Triển khai một số nội dung hợp tác thực chất, hiệu quả với doanh nghiệp.

4.3. Đổi mới tổ chức đào tạo theo module, tín chỉ và phát triển đào tạo trực tuyến

- Đổi mới tổ chức đào tạo theo module, tín chỉ và phát triển đào tạo trực tuyến sẽ là hướng đào tạo chủ yếu. Chương trình đào tạo phải được thiết kế linh hoạt, một mặt đáp ứng chuẩn đầu ra của nghề; mặt khác, tạo sự liên thông giữa các trình độ trong một nghề và giữa các nghề;

- Áp dụng tiêu chuẩn mới của CMCN 4.0 vào chương trình đào tạo, các hoạt động nghiên cứu ứng dụng, giảng dạy và chuyển giao công nghệ trong GDNN. Áp dụng công nghệ mới, đặc biệt là công nghệ thông tin trên nền tảng internet vạn vật (IoT) và trí tuệ nhân tạo (AI,) trong nghiên cứu, giảng dạy và chuyển giao công nghệ;

- Thay đổi phương pháp đào tạo trên cơ sở lấy người học làm trung tâm và ứng dụng công nghệ thông tin trong thiết kế bài giảng và truyền đạt bài giảng. Cùng với đó là sự đổi mới hình thức và phương pháp thi, kiểm tra trong GDNN theo hướng đáp ứng năng lực làm việc và tính linh hoạt và sáng tạo của người học;

- Triển khai đào tạo thường xuyên theo hình thức vừa làm, vừa học, ưu tiên đào tạo lại nhân lực đáp ứng yêu cầu CMCN 4.0.

4.4. Điều chỉnh hệ thống đào tạo giáo viên cho hệ thống giáo dục nghề nghiệp

Đào tạo đội ngũ cán bộ quản lígiáo viên để phục vụ cho việc tổ chức thực hiện hệ thống GDNN mở và linh hoạt. Hiện nay hệ thống GDNN của Việt Nam đang đào tạo trên 400 ngành nghề khác nhau. Trong khi đó, các trường, khoa sư phạm kỹ thuật của cả nước mới chỉ đào tạo được giáo viên, giảng viên cho gần 40 nghề, số còn lại (khoảng 90%) không có nơi nào đào tạo. Một mặt khác, chất lượng đào tạo giáo viên, giảng viên cho hệ thống GDNN hiện nay không đảm bảo để giáo viên, giảng viên có thể dạy học theo năng lực thực hiện tích hợp giữa lý thuyết và thực hành. Bởi vậy, cần điều chỉnh lại hệ thống đào tạo giáo viên, giảng viên cho hệ thống GDNN [1].

4.5. Thiết lập mối quan hệ giữa cơ sở giáo dục nghề nghiệp với các doanh nghiệp

- Các chương trình, nội dung và phương pháp đào tạo tiếp tục đổi mới theo hướng thực sự thiết thực, hiệu quả trên cơ sở bám sát và đáp ứng yêu cầu của doanh nghiệp, của thị trường lao động cả trong và ngoài nước, huy động các doanh nghiệp tham gia dạy nghề. Đặc biệt chú trọng hơn nữa giáo dục kỹ năng mềm, kỹ năng khởi nghiệp cho HS/SV;

- Hướng đến doanh nghiệp và cơ sở GDNN cùng thống nhất chương trình đào tạo, cùng tuyển sinh, cùng đào tạo và từ đó doanh nghiệp có đủ nhân lực chất lượng đáp ứng yêu cầu sản xuất kinh doanh. Xu hướng sẽ chuyển từ chọn trường sang chọn nghề và chọn nơi làm việc sau đó mới chọn trường để học. Người học được doanh nghiệp chấp nhận sơ tuyển, sẽ theo học tại trường do doanh nghiệp hợp tác đào tạo [2].

5. Kết luận

Nói đến GDNN mở, linh hoạt ta thường quan tâm đó chỉ là phương thức nhưng khi đã trở thành phổ biến thì nó giúp làm hiện thực hoá sâu sắc thêm các tính chất cao đẹp của nền giáo dục tiến bộ, đó là tính đại chúng, tính dân chủ, tính bình đẳng, tính xã hội, tính nhân đạo...

Triết lý đào tạo gắn với việc làm, học để làm và học suốt đời của GDNN là những định hướng để đổi mới GDNN nhằm phát triển một đội ngũ nhân lực có chất lượng, đủ số lượng và đồng bộ về cơ cấu ngành nghề và trình độ để CNH, HĐH đất nước trong bối cảnh kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế, đồng thời để tạo thuận lợi cho người lao động có thể cần gì học nấy và học suốt đời. Tuy nhiên để thực hiện được triết lý này cần đổi mới toàn diện quản lý GDNN nước ta, từ quản lý các yếu tố đầu vào (Chương trình đào tạo, giáo viên, cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy học, tài chính...) cho đến quản lý quá trình đào tạo (đào tạo theo từng công việc của nghề, theo module, tínchỉ,..) và quản lý đầu ra (đánh giá kết quả đào tạo theo chuẩn năng lực nghề nghiệp, tư vấn và giới thiệu việc làm cho HS/SV tốt nghiệp.)

CMCN 4.0 đã tác động trực tiếp đến mọi mặt của đời sống KT-XH, tác động đến việc làm, phân cực lao động và liên quan trực tiếp đến an sinh xã hội. Nó vừa là cơ hội nhưng cũng là thách thức đối với lĩnh vực GDNN. Để hiện thực hóa các giải pháp đào tạo kỹ năng nghề nghiệp trong bối cảnh hiện nay không chỉ cần sự vào cuộc của ngành Lao động - Thương binh và Xã hội mà cần sự ưu tiên về nguồn lực của Chính phủ, sự chủ động đi trước, đón đầu công nghệ của các Bộ ngành, cơ sở sản xuất kinh doanh, dịch vụ và đặc biệt là sự phối hợp trong việc đào tạo kỹ năng cho người lao động và người học theo trong bối cảnh CMCN 4.0 trên cơ sở phát triển một hệ thống GDNN mở, linh hoạt, đa dạng theo hướng chuẩn hóa, hiện đại hóa, dân chủ hóa, xã hội hóa và hội nhập quốc tế, liên thông giữa các trình độ GDNN và liên thông với các trình độ đào tạo khác.

 

Tài liệu tham khảo

[1] Nguyễn Minh Đường (2016). Bàn về triết lý của Giáo dục nghề nghiệp.Tạp chí Khoa học dạy nghề số 36 tháng 9/2016, Hà Nội.

[2] Nguyễn Văn Lâm (2017). Giải pháp huy động nguồn lực xã hội hóa vào phát triển hệ thống giáo dục nghề nghiệp. Tạp chí Công Thương số 3, tháng 3/2017.

[3] Nguyễn Hồng Minh (2017). Cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 và những vấn đề đặt ra đối với hệ thống giáo dục nghề nghiệp Việt Nam. Tạp chí Khoa học Dạy nghề số 40+41 tháng 1+2/2017.

[4] Thủ tướng Chính phủ (2012). Quyết định số 630/QĐ-TTg, ngày 29/5/2012, phê duyệt chiến lược phát triển dạy nghề thời kỳ 2011-2020.

[5] Thủ tướng Chính phủ (2014). Quyết định số 1982/QĐ-TTg, ngày 31/10/2014, phê duyệt Đề án “Ứng dụng CNTT trong quản lý hoạt động dạy và học nghề đến năm 2020”.

[6] Thủ tướng Chính phủ (2017). Chỉ thị số 16/CT-TTg, ngày 04/5/2017, về việc tăng cường năng lực tiếp cận cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ 4.

[7] Viện Khoa học Giáo dục nghề nghiệp - Viện Đào tạo nghề Liên bang Đức (BiBB) - GIZ  (2016). Báo cáo Giáo dục nghề nghiệp Việt Nam 2015.

[8] A.W. (Tony) Bates (1995), Technology, E-learning and Distance Education Second edition, Simultaneously published in the USA and Canada by Routledge 270 Madison Ave, New York, NY 10016.

[9] Betty callis jef moonen (2002), Flexible learning in a digital world, experiences and expectations, 2 Park Square, Milton Park, Abingdon, axon, OX14 4RN, 270 Madison Ave, New York NY 10016, published by Routledge Tr 1-6.

[10] Hilary Perraton (2000), Open and Distance Learning in the Developing World (2nd Edition), 2 Park Square, Milton Park, Abingdon, Oxon, OX14 4RN, published 2007 by Routledge.

[11] John Mitchell (1999), E-business and online learning converging in the ‘information age’ Managed by the Flexible Learning Advisory Group on behalf of the Commonwealth, all states and territories in conjunction with ANTA.

[12] Judith Caldar & Ann Mccollum (1998), Open and Flexible in vocational education and training 2 Park Square, Milton Park, Abingdon, axon OX14 4RN711 Third Avenue, New York, NY 10017, published 2012 by Routledge.

 

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Hotline
Thăm dò ý kiến

Bạn thấy website này như thế nào?

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây