GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO NGHÊ GẮN VỚI VIỆC LÀM: THÔNG TIN THỊ TRƯỜNG LAO ĐỘNG VÀ KẾT NỐI CUNG-CẦU LAO ĐỘNG

Thứ ba - 09/10/2018 04:08

GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO NGHÊ GẮN VỚI VIỆC LÀM:
THÔNG TIN THỊ TRƯỜNG LAO ĐỘNG VÀ KẾT NỐI CUNG-CẦU LAO ĐỘNG

TS. Lê Kim Dung

Cục trưởng Cục Việc làm - Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội

1. Giáo dục và đào tạo nghề gắn với việc làm - Tiêu chuẩn của Tổ chức lao động quốc tế

Tố chức lao động quốc tế ILO đã thông qua nhiều tiêu chuẩn quốc tế cũng như các khuyến nghị khuyến khích các quốc gia thành viên xây dựng các thực hiện chính sách phát triên nguồn nhân lực và đào tạo nghề gắn với việc làm và mang lại lợi ích cho tất cả các bên[1]. Trong đó, phải kể đến Công ước số 142 và Khuyến nghị 195 về Phát triển Nguồn Nhân lực: Giáo dục, Đào tạo và Học tập suốt đời.

Công ước 142 của ILO yêu cầu các quốc gia thành viên thông qua và triển khai chính sách và chương trình toàn diện về giáo dục và đạo tạo nghề (ĐTN) gắn kết chặt chẽ với việc làm, đặc biệt thông qua các dịch vụ việc làm công. Các chính sách và chương trình về ĐTN cần phải xem xét đến nhu cầu về việc làm, cơ hội và thách thức liên quan đến việc làm ở tầm quốc gia và khu vực; trình độ và mức độ phát triển KT-XH và văn hóa; và các mối quan hệ lẫn nhau giữa phát triển nguồn nhân lực và các mục tiêu KT-XH và văn hóa khác. Đặc biệt các chính sách và chương trình sẽ được triển khai thực hiện phù hợp với điều kiện quốc gia. Công ước yêu cầu chính sách và chương trình về ĐTN cần được thiết kế để thúc đẩy và nâng cao khả năng của cá nhân cũng như được áp dụng cho tất cả mọi người, trên cơ sở bình đẳng và không phân biệt đối xử, phát triển và sử dụng năng lực của họ để làm việc vì lợi ích riêng của họ và phù hợp với nguyện vọng của họ, nhu cầu của xã hội.

Vtính chất của hệ thống đào tạo, để thực hiện được yêu cầu trên, Công ước yêu cầu các nước thành viên xây dựng hệ thống giáo dục và ĐTN mở, linh hoạt có khả năng hỗ trợ và bổ sung cho nhau, bất kể các hoạt động này nằm trong hệ thống đào tạo chính thúc hay không[2]. Công ước cũng yêu cầu các nước thành viên dần dần mở rộng hệ thống ĐTN, hướng nghiệp bao gồm cả thông tin v thị trường lao động (TTLĐ) để đảm bảo rằng thông tin đầy đủ và toàn diện về việc làm và những định hướng vngh nghiệp được cung cấp cho tất cả học sinh, thanh niên và người lớn tuôi, cũng như những chương trình phù hợp với người khuyêt tật.

Thông tin và hướng dẫn này bao gồm lựa chọn nghề nghiệp, ĐTN và các cơ hội đào tạo có liên quan, tình hình việc làm và triển vọng việc làm, triển vọng thăng tiến, điều kiện làm việc, an toàn và vệ sinh tại nơi làm việc và các khía cạnh khác của công việc trong các lĩnh vực khác nhau của hoạt động KT-XH và văn hóa; các vấn đề về thỏa ước tập thể và quyền và nghĩa vụ của tất cả các bên liên quan theo Luật Lao động; thông tin này sẽ được cung cấp phù hợp với luật pháp và thông lệ quốc gia, có tính đến các chức năng và nhiệm vụ tương ứng của các t chức của người lao động (NLĐ) và người sử dụng lao động (NSDLĐ) có liên quan.

Ngoài ra, Công ước còn yêu cầu các nước thành viên sẽ từng bước mở rộng, điều chỉnh và hài hoà các hệ thống ĐTN để đáp ứng nhu cầu ĐTN trong suốt cuộc đời của thanh niên và người lớn trong mọi lĩnh vực của nền kinh tế và các hoạt động kinh tế ở tất các cấp độ. Theo Công ước, các chính sách và chương trình hướng nghiệp, dạy nghề được xây dựng và thực hiện trong sự hợp tác với các tổ chức của NSDLĐ và lao động, phù hợp và phù hợp với luật pháp và thực tiễn quốc gia, với các cơ quan quan tâm khác.

Để có cách hiểu rõ hơn trong quá trình thực hiện Công ước 142, ILO đã thông qua Khuyến nghị 195. Theo đó khái niệm học tập suốt đời được hiểu là tất cả các hoạt động học tập được thực hiện trong suốt cuộc đời để phát triển năng lực và trình độ; Năng lực bao gồm kiến thức, kỹ năng và khả năng áp dụng và thành thạo về một lĩnh vực đặc thù. Trình độ chuyên môn được hiểu là chứng nhận về ĐTN hoặc chứng nhận vê năng lực nghề nghiệp của NLĐ được công nhận ở câp quc tế, quc gia hoặc cấp ngành; Khả năng được tuyển dụng liên quan đến năng lực di động và trình độ nâng cao năng lực của cá nhân để sử dụng các cơ hội GD-ĐT có sẵn để đảm bảo và duy trì công việc tốt, tiến bộ trong doanh nghiệp và giữa các công việc, và đ đối phó với thay đi công nghệ và điều kiện TTLĐ.

Vviệc đào tạo gắn với việc làm, Khuyến nghị 195 nêu rõ các nước thành viên cần phải xác định trách nhiệm của mình đối với GD-ĐT trước khi làm việc, và hợp tác với các đối tác xã hội, cải thiện khả năng tiếp cận cho tất cả đề tăng cường khả năng làm việc và tạo điều kiện hòa nhập xã hội; đặc biệt là việc phát triển các phương pháp tiếp cận cho GD-ĐT không chính quy, đặc biệt là đối với người lớn bị từ chối cơ hội GD-ĐT tạo khi còn trẻ; khuyến khích sử dụng công nghệ thông tin và truyền thông mới trong học tập và đào tạo, trong phạm vi có thể; đảm bảo cung cấp thông tin nghề nghiệp, TTLĐ và nghề nghiệp, hướng dẫn và tư vấn việc làm, bồ sung thông tin v quyn và nghĩa vụ của tất cả các bên liên quan đến luật lao động và các hình thức điều tiết lao động khác; đảm bảo rằng các chương trình GD-ĐT trước khi làm việc có liên quan và chất lượng của họ được duy trì; đảm bảo rằng hệ thống giáo dục và ĐTN được phát trin và tăng cường để cung cấp cơ hội thích hp cho việc phát triển và chứng nhận các kỹ năng liên quan đến TTLĐ.

Một số hàm ý được rút ra từ Công ước số 142 và Khuyến nghị 195 của Tổ chức lao động đó là giáo dục, ĐTN và học tập suốt đời là những trụ cột quan trọng trong việc có khả năng có việc làm, luôn gắn với việc làm của NLĐ và sự phát triển bền vững của doanh nghiệp. Mỗi quốc gia cần phải xây dựng và theo đổi một chính sách ĐTN mở và linh hoạt, gắn ĐTN với việc làm, thúc đy thông tin TTLĐ, tăng cường hoạt động hướng nghiệp, tăng cường sự tham gia của các dịch vụ v iệc làm (DVVL) công. Chính sách ĐTN được ban hành dựa trên sự trao đổi và đối thoại chặt chẽ với tổ chức của NLĐNSDLĐ phải được rà soát thường xuyên phù hợp với điều kiện phát triển kinh tế của mỗi quốc gia.

2. Đào tạo nghề gắn với việc làm tại Việt Nam

2.1. Pháp luật và chính sách

Giải quyết việc làm, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực luôn là một trong những mục tiêu hàng đầu của Việt Nam xuyên suốt quá trình phát triển nhằm phát huy tối đa nội lực để phát triển KT-XH và đảm bảo an sinh xã hội. Điều này được thể hiện rõ trong hệ thống pháp luật của Việt Nam, trong đó có Hiến pháp năm 1992, Bộ luật lao động năm 2012 và Luật Việc làm năm 2013. Đặc biệt là Luật Việc làm năm 2013 đã quy định đầy đủ, điều chỉnh toàn diện các quan hệ về việc làm và TTLĐ. Các chính sách về việc làm, về quản lý lao động, thông tin TTLĐ, bảo hiểm thất nghiệp (BHTN); quản lý tổ chức và hoạt động của trung tâm DVVL, doanh nghiệp hoạt động DVVL bao gồm kết nối cung cầu, thông tin về việc làm, dự báo TTLĐ, ở các mức độ khác nhau, các chính sách về việc làm của Việt Nam, đặc biệt là các chính sách về tạo việc làm, Quỹ quốc gia về việc làm, chính sách về BHTN (bao gồm trợ cấp thất nghiệp giới thiệu việc làm, ĐTN) đã từng bước tiếp cận Công ước 142 và Khuyến nghị 195 liên quan đến giải quyết việc làm, kết nối cung cầu, thúc đẩy phát triển nguồn nhân lực.

2.2. Thị trường lao động Việt Nam - chất lượng nguồn nhân lực

Hiện nay, lực lượng lao động Việt Nam là 54,56 triệu người, tuy nhiên số người có trình độ chuyên môn kỹ thuật chỉ có 11,39 triệu lao động qua đào tạo có bằng/chứng chỉ (bao gồm các trình độ sơ cấp nghề, trung cấp, cao đng, đại học và sau đại học), chiếm 20,92% tổng lực lượng lao động (LLLĐ). Tương quan về số lượng lao động có trình độ đại học trở lên với các trình độ cao đẳng, trung cấp và sơ cấp nghề là 1-0,35-0,56-0,38. Tương quan này cảnh báo về sự thiếu hụt kỹ sư thực hành và công nhân kỹ thuật bậc cao trong bối cảnh Việt Nam đang trong quá trình CNH, HĐH đất nước.

Theo đánh giá của Ngân hàng Thế giới, chất lượng nguồn nhân lực Việt Nam đang ở mức thấp trong bậc thang năng lực quốc tế. Việt Nam đang thiếu lao động có trình độ tay nghề, công nhân kỹ thuật bậc cao. Đặc biệt, lao động Việt Nam còn thiếu và yếu về ngoại ngữ và các kỹ năng mềm như làm việc nhóm, giao tiếp, tác phong công nghiệp (trách nhiệm và đạo đức nghề nghiệp) và kỷ luật lao động kém.

Trên thực tế chất lượng, cơ cấu lao động có chuyên môn kĩ thuật (CMKT) chưa đáp ứng nhu cầu của TTLĐ đã dẫn đến tình trạng nhiều NLĐ có CMKT làm việc không đúng trình độ hoặc làm các công việc giản đơn hay bị thất nghiệp trong thời gian qua. Theo Điều tra lao động Việc làm của Tổng cục Thống kê năm 2016, trong tổng số 11,39 triệu lao động qua đào tạo có bằng/chứng chỉ của LLLĐ Việt Nam, có: hơn 2 triệu người có CMKT đang làm các công việc yêu cầu trình độ kỹ năng thấp hơn so với trình độ đào tạo của NLĐ (chiếm 17,76% tổng LLLĐ có CMKT); gần 773 nghìn người có CMKT đang làm các công việc giản đơn (chiếm 6,79% tổng LLLĐ có CMKT), có 425 nghìn người có CMKT bị thất nghiệp (chiếm 3,84% tổng LLLĐ có CMKT. Nguyên nhân cơ bản của tình trạng này là sự không khớp nối giữa đào tạo với nhu cầu trên TTLĐ. Đó là tình trạng đào tạo ngành thừa, ngành thiếu; đào tạo không khớp với yêu cầu thực tế công việc, quá thiên về lý thuyết, ít chú ý tới thực hành; NLĐ trình độ cao thiếu các kỹ năng nghề nghiệp, kỹ năng mềm hay mức độ đáp ứng sẵn sàng cho công việc.

Lao động 15 tuổi trở lên đang làm việc trong các ngành kinh tế, năm 2017 ước tính 53,7 triệu người, tăng 416,1 nghìn người so với năm 2016. Trong tổng số lao động từ 15 tuổi trở lên đang làm việc năm 2017, khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản chiếm 40,3%; khu vực công nghiệp và xây dựng chiếm 25,7%; khu vực dịch vụ chiếm 34,0%. Lao động từ 15 tuổi trở lên đang làm việc năm 2017 khu vực thành thị chiếm 31,9%; khu vực nông thôn chiếm 68,1%.

Số người có việc làm trong quý I/2017 ước tính là 53,4 triệu người, tăng 74,7 nghìn người so với cùng kỳ năm trước; quý II là 53,4 triệu người, tăng 164,3 nghìn người; quý III là 53,8 triệu người, tăng 496,9 nghìn người; quý IV là 54,1 triệu người, tăng 671,8 nghìn người.

Tỷ lệ thất nghiệp của lao động trong độ tuổi năm 2017 là 2,24%, trong đó khu vực thành thị là 3,18%; khu vực nông thôn là 1,78%. Tỷ lệ thất nghiệp của thanh niên (từ 15-24 tuổi) năm 2017 là 7,51%

Tỷ lệ thiếu việc làm của lao động trong độ tui lao động năm 2017 là 1,63%, thấp hơn mức 1,66% của năm 2016.

2.3. Gắn kết đào tạo và việc làm

Theo đánh giá của Ngân hàng thế giới, bức tranh việc làm của Việt Nam không mấy sáng sủa. Tuy Việt Nam có nhiều chuyển biến lớn về kinh tế nhưng 76% số lượng việc làm vẫn nằm ở những hình thức công việc truyền thống[3].

  • Số liệu thống kế của Tổng Cục thống kê cũng chỉ ra rằng lao động Việt Nam chủ yếu làm việc trong khu vực nông nghiệp (lực lượng lao động khu vực nông thôn 37,4 triệu người (chiếm 67,8%)), khu vực phi chính thức (56,8%), năng suất thấp, về cơ bản Việt Nam vẫn là một thị trường dư thừa lao động trong nông nghiệp, nông thôn với chất lượng cung lao động thấp, phân bổ chưa hợp lý và khả năng di chuyển còn bị hạn chế;
  • Chất lượng lao động ở nước ta thấp, chưa đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế, cơ cấu ngành nghề đào tạo có nhiều bất cập. Còn thiếu lao động kỹ thuật trình độ cao, lao động trong một số ngành công nghiệp mới;
  • Cầu lao động thấp về số lượng và vẫn còn một tỷ lệ lớn lao động làm việc trong các nghề giản đơn, không đòi hỏi chuyên môn kỹ thuật, khu vực làm công ăn lương phát triển chậm;
  • Có sự mất cân đối cung cầu lao động cục bộ giữa các vùng, khu vực, ngành nghề kinh tế, mặc dù thiếu việc làm chiếm tỷ lệ lớn, nhưng một số ngành nghề, địa phương không tuyển được lao động;
  • Hệ thống giáo dục, hướng nghiệp và đào tạo chưa đáp ứng được nhu cầu của TTLĐ, đặc biệt là đối với lao động yêu cầu kỹ năng cao. Thất nghiệp gia tăng mạnh ở những người có trình độ cao (từ đại học trở lên). Nguyên nhân quan trọng nhất là chất lượng đào tạo trong các trường đại học, cao đẳng chưa cao nên lao động mới tốt nghiệp đa số không đáp ứng được nhu cầu tuyển dụng của các cơ quan, doanh nghiệp.
  • Chất lượng việc làm thấp, lao động tự làm việc, lao động gia đình không hưởng lương và lao động làm việc trong các cơ sở sản xuất kinh doanh không chính thức, vẫn là ba nhóm lao động chủ đạo của nền kinh tế.

3. Tình hình thực hiện các chính sách, giải pháp kết nối cung cầu lao động, kết nốỉ đào tạo với việc làm

  • Hỗ trợ NLĐ và các cơ sở sản xuất kinh doanh tạo việc làm thông qua việc vay vốn từ Quỹ quốc gia về việc làm. Giai đoạn 2011-2015, ước cả nước hỗ trợ tạo việc làm thông qua Quỹ quốc gia về việc làm cho khoảng 530 nghìn lao động, năm 2016 là 105 nghìn lao động và năm 2017 là 114 nghìn lao động. Khuyến khích cơ quan, t chức và doanh nghiệp nhận lao động yếu thế là người khuyết tật vào làm việc, đến nay có gần 240 ngàn lao động là người khuyết tật có việc làm ổn định. Song song với đẩy mạnh tạo việc làm trong nước, Bộ cũng đã tích cực chỉ đạo, tổ chức đưa lao động và chuyên gia đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng, số lao động Việt nam đang làm việc tại nước ngoài tính đến nay là trên 500.000 lao động;
  • Tổ chức thực hiện chính sách BHTN nhằm giúp NLĐ thất nghiệp sớm tìm kiếm việc làm, đồng thời bù đắp một phần thu nhập cho NLĐ khi bị thất nghiệp. Đến hết năm 2017, số người tham gia BHTN là 11.954.740 triệu người, năm 2017 tồng thu được 13.591.830 triệu đồng. Giai đoạn 2011-2017: số người nộp hồ sơ hưởng BHTN là 3.508.910 người; số người có quyết định hưởng trợ cấp thất nghiệp là 3.464.273 người; số người được hỗ trợ học nghề là 123.828 người; số người được tư vấn, giới thiệu việc làm là 3.900.495 người;
  • Tiếp tục cải cách chính sách tiền lương, tiền công theo định hướng thị trường, thực hiện cơ chế thương lượng, thỏa thuận về tiền lương trong các loại hình doanh nghiệp. Hàng năm, trình Chính phủ ban hành quy định về mức lương tối thiểu vùng đối với NLĐ làm việc theo hợp đồng lao động.
  • Triển khai các hoạt động thu thập thông tin thông qua điều tra, khảo sát, ghi chép cập nhật cung, cầu lao động để phân tích, xây dựng các báo cáo xu hướng lao động, xã hội; xu hướng việc làm, các bản tin cập nhật về TTLĐ, giúp các cơ quan quản lý nhà nước có cơ sở để hoạch định chính sách, các cơ sở đào tạo xây dựng kế hoạch đào tạo và tuyển sinh phù hợp, NSDLĐNLĐ nắm bắt được nguồn cung, cầu lao động hiện có trên thị trường và xu hướng tuyển dụng lao động.
  • Tập trung phát triển và hình thành hệ thống các Trung tâm DVVL nhằm tăng cường kết nối cung - cầu lao động, rút ngắn thời gian tìm việc của NLĐ, thời gian tuyển dụng của NSDLĐ, giảm tỷ lệ thất nghiệp thành thị, tăng tỷ lệ sử dụng thời gian lao động nông thôn, góp phần tăng trưởng và giải quyết việc cho NLĐ:

+ Tập trung đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị, đào tạo cán bộ nhằm nâng cao năng lực hệ thống các Trung tâm DVVL, đặc biệt là 64 Trung tâm DVVL thuộc ngành LĐ-TBXH;

+ Tổ chức các hoạt động giới thiệu việc làm, cung ứng và tuyển lao động gắn liền với hoạt động tư vấn. Giai đoạn 2011-2017, theo báo cáo từ các sở LĐ-TBXH và Trung tâm DVVL các tỉnh, thành phố, số lao động tìm kiếm việc làm, số doanh nghiệp tuyển dụng lao động qua hệ thống các Trung tâm đều tăng qua các năm, cho thấy hiệu quả hoạt động DVVL ngày càng phát huy vai trò của mình trong việc kết nối cung cầu lao động, góp phần giải quyết việc làm cho lao động ở mỗi địa phương. Giai đoạn 2011-2017, các trung tâm đã tư vấn cho 16.782.109 lượt người (trong đó có 9.565.802 lượt NLĐ được tư vấn về việc làm, chiếm 57%; lao động nữ được tư vấn chiếm 46,35%).

Hoạt động giới thiệu việc làm, cung ứng và tuyển lao động cũng được tăng cường tính hiệu quả hơn thông qua hoạt động giao dịch việc làm của các sàn giao dịch việc làm. Hiện nay, cả nước có 48 địa phương tổ chức sàn giao dịch việc làm. Trong giai đoạn 2011-2017, trên toàn quốc đã tổ chức được 6.790 phiên giao dịch việc làm. Các phiên giao dịch việc làm được tổ chức với tần suất ngày càng tăng, số doanh nghiệp tham gia trung bình trong một phiên giao dịch việc làm khoảng 25-30 doanh nghiệp; số NLĐ tham gia trong một phiên giao dịch khoảng 400-450 lao động, trong đó số lao động được sơ tuyển trong một phiên giao dịch việc làm khoảng 200-230 lao động. Thông qua hoạt động của sàn giao dịch việc làm, các Trung tâm đã tạo môi trường thuận lợi để NLĐNSDLĐ trực tiếp gặp gỡ, phỏng vấn và tuyển dụng;

+ Đã kết nối 63 website của các Trung tâm DVVL thuộc ngành LĐ-TBXH trên toàn quốc tại Cng thông tin điện tử việc làm Việt Nam (vieclamvietnam.gov.vn), tạo thành hệ thng và chia sẻ thông tin việc làm trng và thông tin người tìm việc giữa các địa phương. Đến thời điểm này, đã có hơn 220 triệu lượt truy cập cổng thông tin việc làm, bình quân 150 ngàn lượt truy cập mi ngày. Website thường xuyên đăng tải thông tin việc làm trống của hơn 65.000 doanh nghiệp và thông tin tìm việc của hơn 35.000 người. Thông tin về việc làm trong và người tìm việc luôn được cập nhật hàng ngày;

  • Hướng dẫn cấp phép và quản lí các doanh nghiệp hoạt động DVVL, doanh nghiệp cho thuê lại lao động, tạo sự linh hoạt trong việc cung ứng và sử dụng lao động, phù hợp với xu thế tất yếu của TTLĐ. Đồng thời, chỉ đạo hệ thống Trung tâm DVVL phối kết hợp với các doanh nghiệp hoạt động DVVL, các doanh nghiệp cho thuê lại lao động đế chia sẻ, kết nối thông tin nhằm nâng cao hiệu quả các hoạt động DVVL.

Ngoài các kêt quả đạt được đã nêu trên, thì việc thực hiện các chính sách, giải pháp nhằm kết nối cung - cầu lao động vẫn còn nhiều khỏ khăn và hạn chế:

  • Các chính sách và giải pháp chưa khắc phục được triệt để những hạn chế công tác ĐTN như: chất lượng đào tạo chưa cao, chưa đáp ứng được nhu cầu tuyển dụng, chưa đào tạo đúng nhu cầu thị trường, chưa theo kịp sự chuyển dịch của mô hình và cơ cấu kinh tế... dẫn đến mất cân đối cung - cầu lao động, cầu thiếu, cung thừa, thất nghiệp gia tăng ở những người có trình độ cao.
  • Các chính sách phát triển TTLĐ thiếu đồng bộ, chưa bao phủ hết các thành phần của TTLĐ;
  • Chưa kịp thời có những giải pháp ứng phó với những thay đổi trên TTLĐ (khủng hoảng kinh tế, tình trạng thiếu hụt lao động phổ thông cho các khu công nghiệp, giải quyết trang chấp lao động và đình công, quản lý lao động nước ngoài,...);
  • Qua các nghiên cứu, khảo sát cho thấy tại Việt Nam giao dịch trên TTLĐ chủ yếu vẫn là hình thức trực tiếp giữa NLĐNSDLĐ. Các dịch vụ tư vấn, hướng nghiệp, giới thiệu việc làm,.. của các Trung tâm DVVL chưa đa dạng về hình thức, chưa thu hút được NLĐ, NSDLĐ.
  • Hệ thống thông tin TTLĐ đã được hình thành và phát triển, nhưng còn mới nên độ phủ chưa rộng, thông tin thị trường chưa đa dạng, chưa tạo niềm tin cho người cần sử dụng. Mạng lưới hệ thống Trung tâm giới thiệu việc làm, thông tin TTLĐ còn mỏng nên việc cung cấp thông tin đến với NLĐ rất khó khăn. Dư cung chủ yếu là ở các tỉnh còn chậm phát triển trong khi dư cầu lại tập trung ở một số thành phố lớn, thuộc các vùng kinh tế trọng điểm của cả nước như TP. Hồ Chí Minh, Đồng Nai, Bình Dương, Long An, Hà Nội, Vĩnh Phúc, Đà Nng,...

4. Một số giải pháp nhằm thực hiện hiệu quả kết nối cung cầu lao động, kết nối vói việc làm trong thời gian tới

4.1. Hoàn thiện chính sách, thế chế thị trường lao động

  • Hoàn thiện khung khổ pháp lý để vận hành thông suốt và đồng bộ các thị trường, phát triển các yếu tố của TTLĐ phù hợp với điều kiện trong nước và hội nhập quốc tế.
  • Hoàn thiện và triển khai thực hiện có hiệu quả các chính sách hỗ trợ đào tạo, tạo việc làm cho các nhóm lao động đặc thù.
  • Thực hiện Nghị định số 16/2015/NĐ-CP ngày 14/2/2015 quy định cơ chế tự chủ của đơn vị sự nghiệp công lập, trình Bộ ban hành các quyết định liên quan đến định mức kinh tế - kỹ thuật, giá, tiêu chí, tiêu chuẩn chất lượng dịch vụ, cơ chế giám sát, đánh giá kiểm định chất lượng dịch vụ sự nghiệp công; đề nghị Bộ Nội vụ ban hành Thông tư quy định mã tiêu chuẩn chức danh nghề nghiệp đối với viên chức làm trong ngành DVVL.
  • Ban hành cơ chế để sử dụng hiệu quả nguồn tài chính từ Quỹ BHTN.
  • Xem xét và phê chuẩn các công ước của Tổ chức Lao động quốc tế liên quan đến TTLĐ.

4.2. Phát triển công tác dự báo thị trường lao động

  • Xây dựng và triển khai Đề án “Dự báo cung - cầu lao động” nhằm nâng cao hiệu quả công tác dự báo TTLĐ.
  • Thường xuyên nghiên cứu, xây dựng và ban hành các dự báo ngắn hạn và các ấn phẩm dự báo TTLĐ đến năm 2020, 2025, 2030 theo ngành, nghề để làm cơ sở hoạnh định cho công tác giáo dục nghề nghiệp và định hướng phát triển nguồn nhân lực.
  • Hoàn thiện các mô hình dự báo ngắn hạn và dài hạn phù hợp với điều kiện của TTLĐ Việt Nam.

4.3. Hoàn thiện hệ thống thông tin TTLĐ

  • Hoàn thiện các chỉ tiêu TTLĐ theo hướng hội nhập, đặc biệt vừa phải phản ánh được đặc điểm TTLĐ Việt Nam vừa phải so sánh được với các nước trên thế giới.
  • Tăng cường đội ngũ và năng lực cán bộ thống kê, phân tích thông tin và dự báo TTLĐ; đầu tư cơ sở hạ tầng thiết bị đặc biệt là hạ tầng công nghệ thông tin.
  • Tổ chức thường xuyên các cuộc điều tra, khảo sát với quy mô mẫu phù hợp, phản ánh đồng bộ, đầy đủ các chỉ tiêu TTLĐ.

- Tập trung phát triển hệ thống phân tích thông tin, dự báo TTLĐ, theo đó, cần xây dựng cơ sở dữ liệu và hoàn thiện phương pháp dự báo.

  • Tồ chức hệ thống báo cáo từ các cấp xã, huyện, tỉnh lên cấp Trung ương thông qua mạng internet thay vì qua các báo cáo hành chính theo truyền thống như hiện nay.
  • Hoàn thiện Trung tâm tích hợp dữ liệu TTLĐ nhằm lưu trữ, xử lý và chia sẻ dữ liệu thường xuyên.
  • Trao đổi hợp tác quốc tế để nâng cao tính chuyên nghiệp trong việc thu thập, phân tích, dự báo TTLĐ.

4.4. Nâng cao năng lực hệ thống dịch vụ việc làm

  • Tăng cường hoạt động tư vấn, giới thiệu việc làm, thông tin TTLĐ; xây dựng sổ tay nghiệp vụ DVVLBHTN thực hiện thống nhất trên toàn quốc.
  • Tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin trong tổ chức và quản lý hoạt động DVVL; phát triển mạng thông tin việc làm, lấy việc xây dựng cơ sở dữ liệu người tìm việc, việc tìm người làm trọng tâm.

4.5. Tăng cường công tác hướng nghiệp, đào tạo theo nhu cầu của thị trường lao động

  • Bộ LĐ-TBXH phối hợp với Bộ GD-ĐT thực hiện có hiệu quả công tác phân luồng đào tạo, hướng nghiệp cho học sinh, sinh viên theo nhu cầu TTLĐ.

Tiếp tục đầu tư đồng bộ cho đào tạo nhân lực thuộc các ngành, nghề trọng điểm quốc gia, các ngành, nghề tiếp cận với trình độ tiên tiến của khu vực, quốc tế; nâng cao chất lượng nguồn nhân lực thông qua đẩy mạnh đào tạo kỹ năng, năng lực thực hành.

Xây dựng những chương trình, kế hoạch cụ thể về phát triển đồng bộ các yếu tố TTLĐ, kết nối cung - cầu lao động phù hợp với tình hình thực tế của TTLĐ hiện nay.

  • Tập trung vào phát triển nguồn cơ sở dữ liệu thông tin đầu vào cho hệ thống thông tin TTLĐ nhm phục vụ cho công tác hoạch định các chính sách phát triển TTLĐ hiệu quả
  • Nghiên cứu những yêu cầu của Công ước 142 và Khuyến nghị 195 về Phát triển Nguồn Nhân lực: Giáo dục, Đào tạo và Học tập suốt đời
  • Phối hợp trin khai mô hình đào tạo mở và linh hoạt, gắn kết việc làm với ĐTN./.
 

[1] Xem khuyến nghị 117, khuyến nghị 057 và khuyến nghi 088 về đào tạo nghề                                                   

[2] Điều 2 Công ước 142 cụ thể công ước quy định “each Member shall establish and develop open, flexible and complement^ systems’of general, technical and vocational education, educational and vocational guidance and vocational training, whether these activities take place within the system of formal education or outside It.

[3] Báo cáo của Ngân hàng thế giới (2018) về Bức tranh việc làm Việt Nam

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

Hotline
Thăm dò ý kiến

Bạn thấy website này như thế nào?

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây