Kết quả triển khai quản lý lao động nước ngoài làm việc tại việt nam và một số giải pháp

Thứ tư - 18/07/2018 03:33

Dịch chuyển lao động giữa các quốc gia, các vùng lãnh thổ là xu thế tất yếu trong quá trình phát triển và hội nhập. Trong những năm gần đây, số lượng người lao động nước ngoài (LĐNN) có trình độ và kinh nghiệm vào làm việc tại Việt Nam có xu hướng gia tăng đã đáp ứng sự thiếu hụt nguồn nhân lực cho sự phát triển KT-XH của Việt Nam, nhất là những lĩnh vực mới, đòi hỏi công nghệ cao.

1. Những quy định chủ yếu về lao động nước ngoài làm việc tại Việt Nam

Hệ thống pháp luật về LĐNN thường xuyên được sửa đổi, bổ sung cho phù hợp với tình hình thực tế. Bộ luật Lao động của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam được ban hành ngày 23/6/1994, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/1995, đã qua 4 lần sửa đổi, bổ sung vào các năm 2002, 2006, 2007 và 2012; trong đó lần sửa đổi năm 2012 là lần sửa đổi cơ bản, toàn diện quy định các nội dung về điều kiện của công dân nước ngoài vào làm việc tại Việt Nam; điều kiện tuyển dụng lao động là công dân nước ngoài; người LĐNN vào làm việc tại Việt Nam không thuộc diện cấp giấy phép lao động (GPLĐ); cấp, cấp lại GPLĐ; các trường hợp GPLĐ hết hiệu lực... Để hướng dẫn thực hiện các nội dung trong quy định của Bộ luật Lao động từ năm 2008-2018, Chính phủ đã ban hành 4 Nghị định và Bộ trưởng Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội đã ban hành các Thông tư hướng dẫn về LĐNN làm việc tại Việt Nam. Quy định hiện hành về LĐNN làm việc tại Việt Nam trong Bộ luật lao động (Điều 169- Điều 175); Nghị định số 11/2016/NĐ-CP ngày 3/02/2016 của Chính phủ và Thông tư số 40/2016/TT- BLĐTBXH ngày 25/10/2016 của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội hướng dẫn Nghị định nêu trên với những nội dung chủ yếu sau:

1) Doanh nghiệp, cơ quan, tổ chức, nhà thầu chỉ được tuyển lao động là công dân nước ngoài vào làm công việc quản lý, giám đốc điều hành, chuyên gia và lao động kỹ thuật mà lao động Việt Nam chưa đáp ứng được theo nhu cầu sản xuất, kinh doanh.

2) Doanh nghiệp, cơ quan, tổ chức, trước khi tuyển dụng lao động là công dân nước ngoài vào làm việc trên lãnh thổ Việt Nam phải giải trình nhu cầu sử dụng lao động và được sự chấp thuận bằng văn bản của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.

3) Người lao động là công dân nước ngoài phải xuất trình GPLĐ khi làm các thủ tục liên quan đến xuất cảnh, nhập cảnh và xuất trình theo yêu cầu của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.

4) Công dân nước ngoài vào làm việc tại Việt Nam không có GPLĐ sẽ bị trục xuất khỏi lãnh thổ Việt Nam theo quy định của Chính phủ.

5) NSDLĐ sử dụng công dân nước ngoài mà không có GPLĐ làm việc cho mình thì bị xử lý theo quy định của pháp luật.

6) Lao động là công dân nước ngoài làm việc tại Việt Nam phải tuân theo pháp luật lao động Việt Nam, điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên có quy định khác và được pháp luật Việt Nam bảo vệ.

7) Lao động là công dân nước ngoài vào làm việc tại Việt Nam phải có đủ các điều kiện sau đây:

- Có năng lực hành vi dân sự đầy đủ;

- Có trình độ chuyên môn, tay nghề và sức khỏe phù hợp với yêu cầu công việc;

- Không phải là người phạm tội hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật Việt Nam và pháp luật nước ngoài;

- Có GPLĐ do cơ quan nhà nước có thẩm quyền của Việt Nam cấp, trừ các trường hợp theo quy định tại Điều 172 của Bộ luật này.

8) Thời hạn của GPLĐ tối đa là 02 năm.

9) Những quy định mới về LĐNN làm việc tại Việt Nam:

  • Chuyên gia là người LĐNN: thuộc một trong các trường hợp sau:

- Có văn bản xác nhận là chuyên gia của cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp tại nước ngoài;

- Có bằng đại học trở lên hoặc tương đương và có ít nhất 03 năm kinh nghiệm làm việc (quy định tại NĐ 102 là 5 năm) trong chuyên ngành được đào tạo phù hợp với vị trí công việc mà LĐNN dự kiến làm việc tại Việt Nam; trường hợp đặc biệt do Thủ tướng Chính phủ xem xét, quyết định.

  • Nhà quản lý, giám đốc điều hành: là người LĐNN thuộc một trong các trường hợp sau:

- Nhà quản lý là người quản lý doanh nghiệp theo quy định tại Khoản 18 Điều 4 Luật Doanh nghiệp (Người quản lý doanh nghiệp là người quản lý công ty và người quản lý doanh nghiệp tư nhân, bao gồm chủ doanh nghiệp tư nhân, thành viên hợp danh, Chủ tịch Hội đồng thành viên, thành viên Hội đồng thành viên, Chủ tịch công ty, Chủ tịch Hội đồng quản trị, thành viên Hội đồng quản trị, Giám đốc hoặc Tổng giám đốc và cá nhân giữ chức danh quản lý khác có thẩm quyền nhân danh công ty ký kết giao dịch của công ty theo quy định tại Điều lệ công ty) hoặc là người đứng đầu, cấp phó của người đứng đầu của cơ quan, tổ chức;

- Giám đốc điều hành là người đứng đầu và trực tiếp điều hành đơn vị trực thuộc cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp.

  • Xác định nhu cầu sử dụng người LĐNN

Người sử dụng lao động (trừ nhà thầu) có trách nhiệm xác định nhu cầu sử dụng người LĐNN đối với từng vị trí công việc mà người lao động Việt Nam chưa đáp ứng được và báo cáo giải trình với Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương nơi người LĐNN dự kiến làm việc. Trong quá trình thực hiện nếu thay đổi nhu cầu sử dụng người LĐNN thì người sử dụng lao động phải báo cáo Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh.

Riêng đối với Tổ chức phi chính phủ nước ngoài, thực hiện chấp thuận nhu cầu sử dụng LĐNN với Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội (Cục Việc làm). 

Người sử dụng lao động không phải thực hiện xác định nhu cầu sử dụng người LĐNN trong 5 trường hợp sau:

- Người LĐNN vào Việt Nam với thời hạn dưới 3 tháng để chào bán dịch vụ quy định tại các Khoản 4 Điều 172 của Bộ luật Lao động;

- Người LĐNN vào Việt Nam với thời hạn dưới 3 tháng để xử lý tình hướng kỹ thuật, công nghệ phức tạp nẩy sinh làm ảnh hưởng hoặc có nguy cơ ảnh hưởng tới sản xuất, kinh doanh mà các chuyên gia Việt Nam  hoặc các chuyên gia nước ngoài  hiện đang ở Việt Nam không xử lý được quy định tại Khoản 5 Điều 172 của Bộ luật Lao động;

- Học sinh, sinh viên học tập tại Việt Nam quy định tại Khoản 8 Điều 172 của Bộ luật Lao động;

- Chuyên gia, nhà quản lý, giám đốc điều hành, lao động kỹ thuật có thời gian làm việc dưới 30 ngày và thời gian cộng dồn không quá 90 ngày trong 1 năm Điểm e Khoản 2 Điều 7 Nghị định 11 nêu trên;

-  Học sinh, sinh viên đang học tập tại các trường, cơ sở đào tạo ở nước ngoài có thỏa thuận thực tập trong các cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp tại Việt Nam Điểm e Khoản 2 Điều 7 Nghị định 11 nêu trên.

  • Trường hợp người LĐNN không thuộc diện cấp GPLĐ:

- Vào Việt Nam làm việc tại vị trí chuyên gia, nhà quản lý, giám đốc điều hành hoặc lao động kỹ thuật có thời gian làm việc dưới 30 ngày và thời gian cộng dồn không quá 90 ngày trong 01 năm;

- Có hộ chiếu công vụ vào làm việc cho cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội;

- Các trường hợp khác do Thủ tướng Chính phủ quyết định theo đề nghị của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội.

- Là trưởng văn phòng đại diện, dự án của tổ chức phi chính phủ nước ngoài tại Việt Nam.

  • Hồ sơ đề nghị cấp giấy phép lao động:

- Giấy chứng nhận sức khỏe hoặc giấy khám sức khỏe do cơ quan, tổ chức y tế có thẩm quyền của nước ngoài hoặc của Việt Nam cấp có giá trị trong thời hạn 12 tháng, kể từ ngày ký kết luận sức khỏe đến ngày nộp hồ sơ.

- Phiếu lý lịch tư pháp hoặc văn bản xác nhận người LĐNN không phải là người phạm tội hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự của nước ngoài cấp. Trường hợp người LĐNN đã cư trú tại Việt Nam thì chỉ cần phiếu lý lịch tư pháp do Việt Nam cấp.  Phiếu lý lịch tư pháp hoặc văn bản xác nhận người LĐNN không phải là người phạm tội hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự được cấp không quá 06 tháng, kể từ ngày cấp đến ngày nộp hồ sơ.

- Giấy tờ trong hồ sơ đề nghị cấp GPLĐ đối với một số trường hợp đặc biệt.

- Thời gian cấp GPLĐ: Trong thời hạn 07 ngày làm việc (trước quy định là 10 ngày), kể từ ngày nhận đủ hồ sơ đề nghị cấp GPLĐ, cơ quan có thẩm quyền cấp GPLĐ cho người LĐNN. Trường hợp không cấp GPLĐ thì có văn bản trả lời và nêu rõ lý do.

- Cấp lại GPLĐ: GPLĐ còn thời hạn ít nhất 05 ngày nhưng không quá 45 ngày (trước là ít nhát 5 ngày đến 15 ngày).

  • Trách nhiệm của các Bộ:

- Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội: Thực hiện chấp thuận nhu cầu sử dụng người LĐNN; xác nhận không thuộc diện cấp GPLĐ; cấp, cấp lại GPLĐ; thu hồi GPLĐ; xác nhận đã thu hồi GPLĐ và đề nghị cơ quan công an trục xuất người LĐNN làm việc tại Việt Nam không có GPLĐ đối với người LĐNN làm việc cho người sử dụng lao động quy định tại các Điểm d, đ (tổ chức phi chính phủ nước ngoài tại Việt Nam), e, g và 1 Khoản 2 Điều 2 Nghị định nêu trên;

- Bộ Công an: Định kỳ hằng quý cung cấp thông tin về người LĐNN được cấp thị thực vào làm việc cho cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp tới Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội.

2. Kết quả triển khai thực hiện các quy định của pháp luật

2.1. Tình hình LĐNN làm việc tại Việt Nam

Trong thời gian qua, số lượng LĐNN có xu hướng tăng, nhất là trong những năm gần đây, tính đến đầu năm 2018, cả nước có trên 80.000 LĐNN đến từ trên 100 quốc gia và vùng lãnh thổ, làm việc ở các vị trí nhà quản lý, giám đốc điều hành, chuyên gia và lao động kỹ thuật. Trong đó, trên 95% tổng số LĐNN thuộc diện cấp GPLĐ đã được cấp GPLĐ.

2.2. Kết quả đạt được về thực hiện quy định của pháp luật về quản lý LĐNN làm việc tại Việt Nam     

Chính sách quản lý LĐNN thể hiện quan điểm của Đảng và Nhà nước là những vị trí công việc mà lao động Việt Nam không đáp ứng được thì được sử dụng LĐNN vào các vị trí công việc nêu trên. Những vướng mắc phát sinh trong quá trình thực hiện được nghiên cứu, trao đổi, đối thoại và cộng đồng doanh nghiệp, tổ chức, đặc biệt là các nhà đầu tư nước ngoài đánh giá cao, cụ thể như sau:

- Các văn bản pháp luật quy định việc quản lý LĐNN làm việc tại Việt Nam được ban hành đầy đủ, kịp thời và đồng bộ;

- Các văn bản hướng dẫn thực hiện quản lý LĐNN làm việc tại Việt Nam được bổ sung, hoàn chỉnh theo hướng chủ động và tăng cường quản lý;

- Các Bộ, ngành, địa phương đã tích cực xây dựng và ban hành các văn bản chỉ đạo, đôn đốc thực hiện các văn bản pháp luật về quản lý LĐNN làm việc tại Việt Nam;

- Trình tự, thủ tục, hồ sơ trong việc chấp thuận nhu cầu sử dụng lao động nước ngoài,; cấp, cấp lại giấy phép lao động; xác nhận không thuộc diện cấp GPLĐ đã giảm bớt thủ tục hành chính, phù hợp với thông lệ quốc tế.

- Ứng dụng công nghệ thông tin trong cấp GPLĐ theo tinh thần Nghị quyết số 36a/NQ-CP ngày 14/10/2015 của Chính phủ về Chính phủ điện tử, thực hiện việc cấp GPLĐ cho LĐNN qua mạng điện tử. Tính đến tháng 3/2018 đã có 41 tỉnh, thành phố trong cả nước triển khai phần mềm cấp GPLĐ cho LĐNN qua mạng điện tử.

- Hầu hết các doanh nghiệp, tổ chức sử dụng người LĐNN thực hiện đúng quy định của pháp luật về LĐNN làm việc tại Việt Nam. Lực lượng LĐNN làm việc tại Việt Nam là chuyên gia, nhà quản lý, giám đốc điều hành và lao động kỹ thuật, đã bổ sung đáng kể nguồn nhân lực có chuyên môn kỹ thuật, kinh nghiệm quản lý điều hành, kỹ năng làm việc chuyên nghiệp theo tiêu chuẩn quốc tế mà lao động Việt Nam chưa đáp ứng được.

2.3. Những hạn chế:

- Công tác tuyên truyền phổ biến chính sách pháp luật đối với việc quản lý LĐNN làm việc tại Việt Nam ở địa phương mặc dù đã được quan tâm nhưng chưa thực sự thường xuyên, liên tục, dẫn đến cách hiểu và thực hiện chưa được thống nhất;

- Công tác phối hợp, trao đổi thông tin trong quản lý LĐNN giữa các cơ quan chuyên môn ở địa phương chưa thật sự chặt chẽ, kịp thời và đồng bộ giữa ngành Lao động - Thương binh và Xã hội, kế hoạch và đầu tư, tư pháp, công an...;

 - Việc phối hợp thực hiện trong việc quản lý còn hạn chế, công tác thanh tra, kiểm tra các doanh nghiệp, tổ chức trong việc thực hiện các quy định của pháp luật về LĐNN còn hạn chế; việc xử lý các vi phạm chưa triệt để;

 - Ý thức chấp hành pháp luật của một số nhà thầu, doanh nghiệp và người LĐNN trong việc tuyển, sử dụng và thực hiện cấp GPLĐ còn hạn chế; nhiều LĐNN vào Việt Nam mới thực hiện việc cấp GPLĐ.

3. Giải pháp tăng cường quản lí về LĐNN làm việc tại Việt Nam

1) Tiếp tục hoàn thiện thể chế, các quy định của pháp luật liên quan đến LĐNN làm việc tại Việt Nam.

2) Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, hướng dẫn và phổ biến các quy định pháp luật Việt Nam liên quan đến LĐNN làm việc tại Việt Nam với nhiều hình thức phù hợp, thiết thực và có sự phối hợp của các cơ quan nhà nước, cơ quan báo chí.

3) Tiếp tục đẩy mạnh rà soát, đánh giá và hoàn thiện quy chế phối hợp theo quy định của pháp luật và tình hình thực tế tại địa phương, tăng cường sự phối hợp giữa các cơ quan trong việc chia sẻ thông tin, hỗ trợ người sử dụng lao động, cấp GPLĐ, quản lý lao động, phát hiện và xử lý kịp thời những vi phạm.

4) Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra và xử lý nghiêm các trường hợp cố tình vi phạm pháp luật Việt Nam liên quan đến người LĐNN, các địa phương tuyệt đối không vì thu hút đầu tư mà nới lỏng quản lý LĐNN.

5) Đẩy mạnh công tác đào tạo và phát triển nguồn nhân lực Việt Nam có trình độ, kinh nghiệm để từng bước thay thế các vị trí công việc của LĐNN./. 

 

                                                                                                     Cục việc làm

                                                                                 Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

Hotline
Thăm dò ý kiến

Bạn thấy website này như thế nào?

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây