Nội dung cơ bản của luật việc làm và một số vấn đề trong công tác tuyên truyền

Thứ sáu - 20/07/2018 11:07

     Trên cơ sở Hiến pháp năm 2013, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, nhằm đáp ứng yêu cầu thực tiễn, bảo đảm yêu cầu hội nhập quốc tế, góp phần thúc đẩy và bảo đảm việc làm theo hướng bền vững cho người lao động. Ngày 16 tháng 11 năm 2013, Quốc hội khóa XIII, kỳ họp thứ 6 đã thông qua Luật Việc làm (Luật số 38/2013/QH13). Đây là một hoạt động lập pháp quan trọng nhằm hoàn thiện khuôn khổ pháp lý trong lĩnh vực việc làm. Lần đầu tiên Việt Nam có một văn bản luật quy định đầy đủ, điều chỉnh toàn diện các quan hệ về việc làm và thị trường lao động (TTLĐ), đồng thời, thể hiện trách nhiệm của Việt Nam với tư cách là một thành viên trong cộng đồng quốc tế, tôn trọng và tuân thủ luật pháp quốc tế, nhất là các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên, trong đó có Công ước số 122 của Tổ chức lao động quốc tế về chính sách việc làm, quyết tâm phấn đấu giải quyết các vấn đề xã hội ngay trong quá trình đổi mới, phát triển và hội nhập.

1. Nội dung cơ bản của Luật Việc làm

     Luật Việc làm bao gồm 07 Chương62 Điều, điều chỉnh 05 nhóm vấn đề lớn: 1) Chính sách hỗ trợ tạo việc làm; 2) Thông tin thị trường lao động (TTLĐ); 3) Đánh giá, cấp chứng chỉ kỹ năng nghề quốc gia; 4) Tổ chức, hoạt động dịch vụ việc làm; 5) Bảo hiểm thất nghiệp (BHTN).

Chương I. Những quy định chung

     Gồm 09 Điều quy định về phạm vi điều chỉnh; đối tượng áp dụng; giải thích từ ngữ; nguyên tắc về việc làm; chính sách của Nhà nước về việc làm; nội dung quản lý nhà nước về việc làm; thẩm quyền quản lý nhà nước về việc làm; trách nhiệm của cơ quan, tổ chức và cá nhân về việc làm; những hành vi bị nghiêm cấm.

     Trên cơ sở tinh thần của Hiến pháp năm 1992, Hiến pháp năm  2013 về quyền lao động, Luật Việc làm khẳng định rõ các nguyên tắc về việc làm của người lao động (NLĐ): bảo đảm quyền làm việc, tự do lựa chọn việc làm và nơi làm việc; bình đẳng về cơ hội việc làm và thu nhập; bảo đảm làm việc trong điều kiện an toàn lao động, vệ sinh lao động.

     Luật Việc làm tiếp tục khẳng định chủ trương nhất quán của Nhà nước trong việc xác định mục tiêu giải quyết việc làm trong chiến lược, kế hoạch phát triển KT-XH; khuyến khích mọi tổ chức, cá nhân tham gia tạo và tự tạo việc làm song song với việc ban hành các chính sách hỗ trợ tạo việc làm, phát triển TTLĐ, BHTN, đánh giá, cấp chứng chỉ kỹ năng nghề quốc gia gắn với việc nâng cao trình độ kỹ năng nghề; hỗ trợ người sử dụng lao động sử dụng nhiều lao động là người khuyết tật, lao động nữ, lao động là người dân tộc thiểu số.

Chương II. Chính sách hỗ trợ tạo việc làm

     Gồm 13 Điều (từ Điều 10 đến Điều 22) quy định 06 chính sách hỗ trợ tạo việc làm cho NLĐ, bao gồm: tín dụng ưu đãi tạo việc làm, hỗ trợ chuyển dịch việc làm đối với NLĐ ở khu vực nông thôn, việc làm công, hỗ trợ đưa NLĐ đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng, hỗ trợ tạo việc làm cho thanh niên và hỗ trợ phát triển TTLĐ.

* Chính sách tín dụng ưu đãi tạo việc làm

     Được phát triển trên cơ sở chính sách cho vay vốn tạo việc làm từ Quỹ quốc gia về việc làm (ra đời từ năm 1992), cụ thể hóa các quy định về đối tượng, điều kiện vay vốn, đồng thời, bổ sung thêm đối tượng ưu tiên là người dân tộc thiểu số đang sinh sống tại vùng có điều kiện KT-XH đặc biệt khó khăn và các cơ sở sản xuất kinh doanh có sử dụng nhiều lao động là người dân tộc thiểu số.

     Ngoài ra, Luật Việc làm cũng bổ sung quy định về các chính sách tín dụng ưu đãi khác nhằm huy động nhiều nguồn lực cho tạo việc làm.

* Chính sách hỗ trợ chuyển dịch việc làm cho NLĐ ở khu vực nông thôn

     Thông qua việc hỗ trợ học nghề (dưới 03 tháng hoặc trình độ sơ cấp nghề), tư vấn, giới thiệu việc làm và vay vốn từ Quỹ quốc gia về việc làm nhằm nâng cao chất lượng lao động, tạo việc làm, tăng thu nhập cho lao động nông thôn, góp phần chuyển dịch cơ cấu lao động và cơ cấu kinh tế nông thôn theo hướng phi nông nghiệp. Đồng thời, hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa, hợp tác xã, tổ hợp tác, hộ kinh doanh phát triển sản xuất kinh doanh để khuyến khích giải quyết việc làm tại chỗ cho NLĐ ở khu vực nông thôn.

* Chính sách việc làm công

     Chính sách việc làm công là chính sách mới với mục tiêu cung cấp việc làm tạm thời có trả công cho NLĐ thông qua việc thực hiện dự án hoặc hoạt động sử dụng vốn nhà nước gắn với các chương trình phát triển KT-XH trên địa bàn cấp xã, gồm: xây dựng cơ sở hạ tầng phục vụ sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp và diêm nghiệp; xây dựng cơ sở hạ tầng công cộng; bảo vệ môi trường; ứng phó với biến đổi khí hậu; các dự án, hoạt động phục vụ cộng đồng tại địa phương. Việc thực hiện chính sách việc làm công sẽ góp phần quan trọng giải quyết việc làm tại chỗ cho NLĐ song song với việc nâng cao hiệu quả sử dụng vốn nhà nước, chất lượng công trình với sự tham gia trực tiếp của người dân.

* Các chính sách hỗ trợ khác

     Trên cơ sở kế thừa các quy định pháp luật hiện hành, Luật Việc làm cũng quy định chính sách khuyến khích và hỗ trợ đưa NLĐ đi làm việc làm ở nước ngoài theo hợp đồng, ưu tiên đối với lao động là người dân tộc thiểu số, người thuộc hộ nghèo, hộ cận nghèo hoặc hộ bị thu hồi đất nông nghiệp, thân nhân của người có công với cách mạng.

     Nhằm hỗ trợ tạo việc làm cho thanh niên, Luật Việc làm đã quy định các chính sách: tư vấn, định hướng nghề nghiệp và giới thiệu việc làm miễn phí cho thanh niên; đào tạo nghề gắn với tạo việc làm cho thanh niên hoàn thành nghĩa vụ quân sự, nghĩa vụ công an, thanh niên tình nguyện hoàn thành nhiệm vụ thực hiện chương trình, dự án phát triển KT-XH và hỗ trợ thanh niên lập nghiệp, khởi sự doanh nghiệp.

     Song song với các chính sách hỗ trợ tạo việc làm, Luật Việc làm cũng quy định việc hỗ trợ phát triển TTLĐ thông qua việc hoàn thiện hệ thống thông tin TTLĐ và phát triển hệ thống dịch vụ việc làm (DVVL) nhằm nâng cao hiệu quả kết nối cung - cầu lao động.

Chương III. Thông tin thị trường lao động

     Gồm 06 Điều (từ Điều 23 đến Điều 28) quy định nội dung thông tin TTLĐ, trách nhiệm của các cơ quan trong quản lý, thu thập, phân tích, dự báo và phổ biến thông tin TTLĐ và bảo đảm an toàn, bảo mật, lưu trữ thông tin TTLĐ.

     Lần đầu tiên thông tin TTLĐ được quy định trong văn bản luật, góp phần phát triển TTLĐ năng động, cạnh tranh, minh bạch và thống nhất, bao gồm: tình trạng, xu hướng việc làm; thông tin về cung cầu lao động, biến động cung cầu lao động trên TTLĐ; thông tin về lao động là công dân nước ngoài làm việc tại Việt Nam và NLĐ Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng và thông tin về tiền lương, tiền công. 

     Luật Việc làm quy định cơ quan quản lý nhà nước về thống kê ở Trung ương tổ chức thu thập, công bố và xây dựng, quản lý cơ sở dữ liệu đối với các thông tin TTLĐ là chỉ tiêu thống kê quốc gia theo quy định của pháp luật về thống kê, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội chủ trì, phối hợp với các bộ, cơ quan liên quan thu thập và công bố các thông tin TTLĐ thuộc ngành, lĩnh vực phụ trách ngoài các thông tin TTLĐ thuộc hệ thống chỉ tiêu thống kê quốc gia và Ủy ban nhân dân các cấp trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn quản lý thông tin TTLĐ tại địa phương.

Chương IV. Đánh giá, cấp chứng chỉ kỹ năng nghề quốc gia

     Gồm 07 Điều (từ Điều 29 đến Điều 35) quy định mục đích, nguyên tắc, nội dung đánh giá, cấp chứng chỉ kỹ năng nghề quốc gia; tổ chức đánh giá kỹ năng nghề; xây dựng, công bố tiêu chuẩn kỹ năng nghề quốc gia; chứng chỉ kỹ năng nghề quốc gia; quyền và trách nhiệm của NLĐ tham gia đánh giá, cấp chứng chỉ kỹ năng nghề quốc gia; những công việc yêu cầu phải có chứng chỉ kỹ năng nghề quốc gia.

     Luật Việc làm quy định việc đánh giá, cấp chứng chỉ kỹ năng nghề quốc gia nhằm công nhận cấp độ kỹ năng nghề nghiệp theo trình độ của NLĐ và NLĐ được tham gia đánh giá, cấp chứng chỉ kỹ năng nghề quốc gia để hoàn thiện năng lực nghề nghiệp, tìm công việc phù hợp hoặc công việc yêu cầu phải có chứng chỉ kỹ năng nghề quốc gia.

     Hoạt động đánh giá kỹ năng nghề quốc gia phải đảm bảo các nguyên tắc: sự tự nguyện của NLĐ; căn cứ vào tiêu chuẩn kỹ năng nghề quốc gia; theo từng bậc trình độ kỹ năng của từng nghề; chính xác, độc lập, khách quan, công bằng, minh bạch.

     Tổ chức đánh giá kỹ năng nghề là tổ chức hoạt động có điều kiện và được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận hoạt động đánh giá, cấp chứng chỉ kỹ năng nghề quốc gia khi có đủ các điều kiện về cơ sở vật chất, trang thiết bị và nhân lực.

     Tiêu chuẩn kỹ năng nghề quốc gia được xây dựng theo từng bậc trình độ kỹ năng nghề cho mỗi nghề và khung trình độ kỹ năng nghề quốc gia. Luật Việc làm quy định rõ Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ, Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ chủ trì xây dựng tiêu chuẩn kỹ năng nghề quốc gia cho từng nghề thuộc lĩnh vực quản lý và đề nghị Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội thẩm định, công bố tiêu chuẩn kỹ năng nghề quốc gia.

Chương V. Tổ chức và hoạt động dịch vụ việc làm

     Gồm 05 Điều (từ Điều 36 đến Điều 40) quy định về DVVL, trung tâm dịch vụ việc làm (TTDVVL), nhiệm vụ của TTDVVL, doanh nghiệp hoạt động DVVL và hoạt động của doanh nghiệp hoạt động DVVL.

     Chương này về cơ bản kế thừa, có sửa đổi, bổ sung pháp luật hiện hành và cụ thể hóa các quy định của Bộ luật lao động năm 2012 về tổ chức và hoạt động của tổ chức DVVL nhằm đảm bảo xã hội hóa trong hoạt động DVVL. Luật Việc làm quy định tổ chức DVVL bao gồm TTDVVL và doanh nghiệp hoạt động DVVL. TTDVVL là đơn vị sự nghiệp công lập, bao gồm 02 loại hình: trung tâm do cơ quan quản lý nhà nước và trung tâm do tổ chức chính trị - xã hội thành lập. TTDVVL được thành lập phải phù hợp với quy hoạch do Thủ tướng Chính phủ phê duyệt và có đủ điều kiện về cơ sở vật chất, trang thiết bị, nhân lực.

     Luật Việc làm quy định rõ nhiệm vụ của TTDVVL và hoạt động của doanh nghiệp hoạt động DVVL. Ngoài các nhiệm vụ chung theo quy định, các TTDVVL do cơ quan quản lý nhà nước về việc làm thành lập thực hiện việc tiếp nhận hồ sơ hưởng BHTN để trình cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định.

Chương VI. Bảo hiểm thất nghiệp

     Gồm 19 Điều quy định về nguyên tắc, đối tượng tham gia BHTN, các chế độ BHTN và Quỹ BHTN.

Luật Việc làm quy định chính sách BHTN trên cơ sở kế thừa các quy định về BHTN của Luật Bảo hiểm xã hội và sửa đổi, bổ sung các quy định để đảm bảo phù hợp với tình hình mới, thực hiện tốt mục tiêu nhanh chóng đưa người thất nghiệp quay trở lại TTLĐ, đồng thời, tạo thuận lợi cho NLĐ tham gia chính sách BHTN.

* Về đối tượng:

     Luật Việc làm quy định đối tượng tham gia BHTN bao gồm: NLĐ làm việc theo hợp đồng lao động hoặc hợp đồng làm việc không xác định thời hạn hoặc xác định thời hạn hoặc hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo công việc nhất định có thời hạn từ đủ 3 tháng đến dưới 12 tháng và mọi người sử dụng lao động.
     Quy định mở rộng đối tượng lao động có hợp đồng lao động từ đủ 03 tháng đến dưới 12 tháng và mọi người sử dụng lao động sẽ góp phần mở rộng phạm vi bao phủ của chính sách, tạo thuận lợi cho NLĐ đã có quan hệ lao động nhưng mức độ ổn định yếu hơn có cơ hội có được việc làm sớm sau khi thất nghiệp.

* Về chế độ bảo hiểm thất nghiệp:
     Luật Việc làm quy định các chế độ đối với người thất nghiệp như hiện hành, gồm: trợ cấp thất nghiệp; hỗ trợ tư vấn, giới thiệu việc làm; hỗ trợ học nghề, đồng thời, bổ sung chế độ hỗ trợ doanh nghiệp đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao trình độ, kỹ năng nghề để duy trì việc làm cho NLĐ.

     Luật Việc làm cũng quy định cụ thể về điều kiện, trình tự, thủ tục hưởng BHTN theo hướng tiếp thu, kế thừa các quy định hiện hành và sửa đổi, bổ sung các quy định mới đảm bảo phù hợp hơn, tiến bộ hơn, cụ thể:

- Mở rộng điều kiện về thời gian đóng BHTN để hưởng trợ cấp thất nghiệp đối với NLĐ làm việc theo hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn từ đủ 03 tháng đến dưới 12 tháng: từ đủ 12 tháng trở lên trong thời gian 36 tháng trước khi chấm dứt hợp đồng lao động;

- Bổ sung quy định về bảo lưu thời gian đóng chưa hưởng trợ cấp thất nghiệp đối với NLĐ;

- Cải cách thủ tục hành chính theo hướng bỏ quy định về đăng ký thất nghiệp và gộp thành việc nộp hồ sơ hưởng trợ cấp thất nghiệp tại TTDVVL do cơ quan quản lý nhà nước về việc làm thành lập;

- Điều chỉnh quy định về thời gian hưởng (đóng đủ 12 tháng đến đủ 36 tháng thì được hưởng 03 tháng trợ cấp thất nghiệp, sau đó, cứ đóng đủ thêm 12 tháng thì được hưởng thêm 01 tháng trợ cấp thất nghiệp nhưng tối đa không quá 12 tháng) và mức hưởng trợ cấp thất nghiệp (tối đa không quá 05 lần mức lương cơ sở đối với NLĐ thuộc đối tượng thực hiện chế độ tiền lương do Nhà nước quy định hoặc không quá 05 lần mức lương tối thiểu vùng theo quy định của Bộ luật lao động đối với NLĐ đóng BHTN theo chế độ tiền lương do người sử dụng lao động quyết định);

- Mở rộng điều kiện về thời gian đóng BHTN để được hỗ trợ học nghề: đóng BHTN từ đủ 09 tháng trở lên trong thời gian 24 tháng trước khi chấm dứt hợp đồng lao động hoặc hợp đồng làm việc.

* Về Quỹ bảo hiểm thất nghiệp:

Luật Việc làm vẫn giữ nguyên như quy định hiện hành nhưng có tiếp thu, sửa đổi quy định về mức hỗ trợ của Nhà nước theo hướng nhà nước hỗ trợ tối đa 1% quỹ tiền lương tháng đóng BHTN của những NLĐ tham gia BHTN căn cứ tình hình kết dư Quỹ từng thời kỳ. Quỹ BHTN được quản lý tập trung, thống nhất, công khai, minh bạch, bảo đảm an toàn và được Nhà nước bảo hộ.

Chương VII. Điều khoản thi hành

Gồm 03 Điều quy định về điều khoản chuyển tiếp, hiệu lực thi hành, quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành.

Luật Việc làm có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2015, các quy định về BHTN của Luật Bảo hiểm xã hội, Chương IX - Đánh giá, cấp chứng chỉ kỹ năng nghề quốc gia của Luật Dạy nghề hết hiệu lực kể từ ngày Luật Việc làm có hiệu lực thi hành.

Luật Việc làm quy định Chính phủ, cơ quan nhà nước có thẩm quyền khác quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành các điều, khoản được giao trong Luật.

2. Văn bản hướng dẫn Luật Việc làm

     Để quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật Việc làm, Chính phủ đã ban hành 03 Nghị định; Thủ tướng Chính phủ ban hành 02 Quyết định; Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội ban hành 08 Thông tư và 01 Thông tư liên tịch; có 02 Nghị định được ban hành theo quy định tại Bộ luật Lao động năm 2012 do mới được ban hành và nội dung vẫn còn phù hợp thực tế, do vậy Chính phủ thấy không cần thiết phải ban hành thêm 02 Nghị định để hướng dẫn thi hành Luật Việc làm (Nghị định số 196/2013/NĐ-CP ngày 21/11/2013 của Chính phủ quy định thành lập và hoạt động của TTDVVL; Nghị định số 52/2014/NĐ-CP ngày 23/5/2014 của Chính phủ quy định điều kiện, thủ tục cấp giấy phép hoạt động DVVL của doanh nghiệp hoạt động DVVL). Cụ thể như sau:

2.1. Nghị định của Chính phủ:

- Nghị định số 28/2015/NĐ-CP ngày 12/03/2015 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Việc làm về BHTN;

- Nghị định số 31/2015/NĐ-CP ngày 24/03/2015 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Việc làm về đánh giá, cấp chứng chỉ kỹ năng nghề quốc gia;

- Nghị định số 61/2015/NĐ-CP ngày 9/7/2015 của Chính phủ quy định về chính sách hỗ trợ tạo việc làm và Quỹ quốc gia về việc làm.

2.2. Quyết định của Thủ tướng Chính phủ:

- Quyết định số 77/2014/QĐ-TTg ngày 24/12/2014 của Thủ tướng Chính phủ quy định mức hỗ trợ học nghề đối với NLĐ tham gia BHTN;

- Quyết định số 1833/2015/QĐ-TTg ngày 28/10/2015 của Thủ tướng Chính phủ về phê duyệt quy hoạch mạng lưới các TTDVVL.

2.3. Thông tư của Bộ và Thông tư liên tịch:

- Thông tư số 27/2015/TT-BLĐTBXH ngày 24/7/2015 của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội hướng dẫn thu thập, lưu trữ và tổng hợp thông tin TTLĐ;

- Thông tư số 28/2015/TT-BLĐTBXH ngày 31/7/2015 của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội hướng dẫn thực hiện Điều 52 của Luật Việc làm và một số điều của Nghị định số 28/2015/NĐ-CP ngày 12/03/2015 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Việc làm về BHTN;

- Thông tư số 38/2015/TT- BLĐTBXH ngày  19/10/2015 của Bộ Lao động -Thương binh và Xã hội  quy định về chứng chỉ kỹ năng nghề quốc gia, cấp và quản lý việc cấp chứng chỉ kỹ năng nghề quốc gia;

- Thông tư số 45/2015/TT-BLĐTBXH ngày 11/11/2015 của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội hướng dẫn thực hiện một số điều về Quỹ quốc gia về việc làm quy định tại Nghị định số 61/2015/NĐ-CP ngày 9/7/2015 của Chính phủ quy định về chính sách hỗ trợ tạo việc làm và Quỹ quốc gia về việc làm;

- Thông tư số 56/2015/TT-BLĐTBXH ngày 24/12/2015 của Bộ Lao động -Thương binh và Xã hội hướng dẫn việc xây dựng, thẩm định và công bố tiêu chuẩn kỹ năng nghề quốc gia;

- Thông tư số 03/2016/TTLT-BLĐTBXH-BQP-BCA ngày 25/3/2016 của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hôi, Bộ Quốc Phòng và Bộ Công An hướng dẫn thực hiện Khoản 6 Điều 32 của Nghị định số 28/2015/NĐ-CP ngày 12/3/2015 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Việc làm về BHTN về việc thông báo biến động lao động làm việc tại các đơn vị thuộc Bộ Quốc phòng, Bộ Công an;

- Thông tư số 19/2016/TT-BLĐTBXH ngày 28/6/2016 của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội hướng dẫn thi hành một số điều của Nghị định số 31/2015/NĐ-CP ngày 24/3/2015 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Việc làm về đánh giá, cấp chứng chỉ kỹ năng nghề quốc gia;

- Thông tư số 11/2017/TT-BLĐTBXH ngày 20/4/2017 của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội hướng dẫn thực hiện một số điều của Nghị định số 61/2015/NĐ-CP ngày 9/7/2015 của Chính phủ quy định về chính sách hỗ trợ tạo việc làm và Quỹ quốc gia về việc làm về chính sách việc làm công;

- Thông tư số 24/2017/TT-BLĐTBXH ngày 21/8/2017 của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 45/2015/TT-BLĐTBXH ngày 11/11/2015 của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội.

3. Công tác tuyên truyền Luật Việc làm và các văn bản hướng dẫn

     Công tác tuyên truyền, phổ biến và giáo dục pháp luật luôn có vị trí và vai trò vô cùng quan trọng trong quá trình xây dựng Nhà nước pháp quyền Xã hội chủ nghĩa hiện nay, là khâu then chốt, quan trọng để chính sách pháp luật của nhà nước thực sự đi vào cuộc sống. Luật Việc làm năm 2013 là một văn bản luật quy định đầy đủ, điều chỉnh toàn diện các quan hệ về việc làm và TTLĐ, điều chỉnh mọi NLĐ là công dân Việt Nam từ đủ 15 tuổi trở lên, có khả năng lao động và có nhu cầu làm việc. Vì vậy, việc nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác tuyên truyền Luật Việc làm để NLĐ, người sử dụng lao động cũng như các cơ quan, tổ chức nhận thức, hiểu và thực hiện đúng, đầy đủ các quy định của Luật Việc làm có ý nghĩa hết sức quan trọng. Do đó, công tác tuyên truyền cần thực hiện như sau:

     Thứ nhất, cấp ủy, chính quyền các cấp cần tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo công tác tuyên truyền, phổ biến Luật Việc làm: xây dựng chương trình, kế hoạch tuyên truyền, phổ biến Luật phù hợp với từng đối tượng và điều kiện thực tế; tích cực, chủ động rà soát các văn bản hướng dẫn Luật nhằm phát hiện những bất cập, để kiến nghị, đề xuất sửa đổi, bổ sung, thay thế, bãi bỏ văn bản có nội dung không còn phù hợp; tổ chức sơ kết, tổng kết, rút kinh nghiệm công tác tuyên truyền, phổ biến Luật; đa dạng hóa các hình thức thông tin, tuyên truyền như tờ rơi, áp phích, thông tin trên các phương tiện thông tin đại chúng; các cuộc thi, tìm hiểu …

     Thứ hai, tăng cường bồi dưỡng nâng cao năng lực cho đội ngũ báo cáo viên, tuyên truyền viên Luật Việc làm đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ, xác định đây là lực lượng nòng cốt, quyết định hiệu quả công tác tuyên truyền, phổ biến Luật, hướng tới đội ngũ cán bộ làm công tác tư vấn, giới thiệu việc làm tại hệ thống các TTDVVL để thông tin, tư vấn hiệu quả cho NLĐ, doanh nghiệp. Tổ chức tập huấn, bồi dưỡng nâng cao kiến thức, cung cấp đầy đủ tài liệu hướng dẫn nghiệp vụ, pháp luật có liên quan để đội ngũ báo cáo viên nắm chắc Luật, kết hợp với  phong tục, tập quán, ngôn ngữ, lễ nghi tôn giáo… của người dân địa phương, từ đó, chủ động, sáng tạo trong tuyên truyền, phổ biến chính sách.

     Thứ ba, “hiện đại hóa” công tác phổ biến, giáo dục pháp luật thông qua việc ứng dụng công nghệ thông tin, đa dạng hóa các kênh phổ biến thông tin từ báo đài, truyền thanh, truyền hình, các trang mạng xã hội  nhằm đưa thông tin chính xác, đầy đủ, lan rộng đến mọi đối tượng lao động và tăng cường tính lan tỏa của thông tin chính sách việc làm, nhất là đối với lao động là thanh niên, góp phần nâng cao nhận thức cho thanh niên về nghề nghiệp, việc làm, chủ động trong tìm kiếm cơ hội việc làm.

     Thứ tư, đa dạng các hình thức phổ biến, giáo dục pháp luật, phù hợp với nhu cầu, lứa tuổi, trình độ của đối tượng được phổ biến, giáo dục pháp luật và truyền thống, phong tục, tập quán của dân tộc. Đồng thời, chủ động lồng ghép việc phổ biến, tuyên truyền Luật Việc làm và các văn bản hướng dẫn trong tư vấn, định hướng nghề nghiệp cho học sinh, sinh viên; kết hợp phổ biến, tuyên truyền các chính sách trong Luật Việc làm cho lao động tại các khu công nghiệp; tổ chức tuyên truyền, phổ biến thông qua các hoạt động giao dịch việc làm, hướng tới các đối tượng lao động phù hợp tại địa phương và lao động ở vùng sâu, vùng xa, lao động là đồng bào dân tộc thiểu số.

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

Hotline
Thăm dò ý kiến

Bạn thấy website này như thế nào?

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây