PHÁT TRIỂN HỆ THỐNG THÔNG TIN THỊ TRƯỜNG LAO ĐỘNG Ở VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 2016-2018

Thứ ba - 01/01/2019 23:25

     Nhằm nâng cao chất lượng giáo dục nghề nghiệp, đẩy mạnh hỗ trợ tạo việc làm, phát triển thị trường lao động (TTLĐ) và tăng cường an toàn, vệ sinh lao động… đáp ứng yêu cầu xây dựng, phát triển đất nước và hội nhập kinh tế quốc tế, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 899/QĐ-TTg ngày 20/6/2017 phê duyệt Chương trình mục tiêu Giáo dục nghề nghiệp - Việc làm và An toàn lao động giai đoạn 2016-2020, trong đó “Phát triển TTLĐ và việc làm” là một trong ba dự án của chương trình.
     Mục tiêu của dự án là nâng cao hiệu quả kết nối cung - cầu lao động; hỗ trợ tạo việc làm cho người khuyết tật, người dân tộc thiểu số; hỗ trợ khởi sự doanh nghiệp, lập nghiệp và phát triển hệ thống thông tin TTLĐ, từ đó góp phần đẩy mạnh giải quyết việc làm, giảm tỷ lệ thất nghiệp. Tổng kinh phí thực hiện dự án là 1.146,8 tỷ đồng (có thể điều chỉnh tăng thêm khi có nguồn nhưng không vượt quá 1.995 tỷ đồng), trong đó: nguồn từ ngân sách Trung ương: 606,8 tỷ đồng; nguồn từ ngân sách địa phương: 450 tỷ đồng; nguồn từ viện trợ nước ngoài và các nguồn huy động khác: 90 tỷ đồng.
Phát triển hệ thống thông tin TTLĐ là một nội dung quan trọng của dự án, bao gồm các hoạt động như: (1) Hỗ trợ hoạt động giao dịch việc làm; (2) Thu thập, cập nhật, quản lý và phân tích, dự báo TTLĐ, cụ thể là thu thập, cập nhật, quản lý cung - cầu lao động; phân tích, dự báo TTLĐ, đánh giá tác động của các yếu tố ảnh hưởng đến sự phát triển của TTLĐ; phát triển mạng thông tin việc làm, cơ sở dữ liệu người tìm việc, việc tìm người của hệ thống Trung tâm DVVL; nâng cao năng lực Trung tâm tích hợp dữ liệu TTLĐ; nâng cấp, phát triển mạng thông tin internet việc làm; nâng cấp cổng thông tin việc làm Việt Nam; xây dựng hệ thống mạng kết nối các Trung tâm DVVL địa phương và Trung ương.
1. Thực trạng phát triển hệ thống thông tin thị trường lao động ở Việt Nam giai đoạn 2016-2018
1.1. Về hỗ trợ hoạt động giao dịch việc làm
     Nhằm đẩy mạnh kết nối cung - cầu lao động, giai đoạn 2016-2018, Dự án đã bố trí kinh phí hỗ trợ các địa phương tổ chức hoạt động giao dịch việc làm, cụ thể:
Giai đoạn 2016-2018 dự án đã bố trí 16,48 tỷ đồng (năm 2016: 1,5 tỷ đồng; năm 2017: 9,04 tỷ đồng; năm 2018: 5,94 tỷ). Trong 3 năm, các Trung tâm đã tổ chức được hơn 3000 phiên giao dịch việc làm. Bình quân, mỗi phiên giao dịch việc làm thu hút được từ 20-25 doanh nghiệp; khoảng 300-400 NLĐ tham gia. Số lao động tìm được việc làm tại các phiên giao dịch việc làm chiếm khoảng 35-40% số lao động tham gia.
     Bên cạnh đó, Trung tâm lao động ngoài nước phối hợp với các Trung tâm DVVL địa phương để phối hợp tổ chức các phiên giao dịch việc làm cho lao động Việt Nam đã từng đi làm việc ở Nhật Bản, Hàn Quốc. Giai đoạn 2016-2018, dự án chi 720 triệu đồng để tổ chức gần 20 phiên giao dịch việc làm, hội chợ việc làm, các ấn phẩm truyền thông dành do đối tượng nói trên.
     Tính đến cuối quý III năm 2018, cả nước có 48 Trung tâm tổ chức sàn giao dịch việc làm định kỳ, thường xuyên, trở thành địa chỉ quen thuộc cho NLĐ cần tìm việc làm, doanh nghiệp cần tuyển lao động. Song song với việc tổ chức sàn giao dịch việc làm tại Trung tâm, nhiều địa phương đã tổ chức các sàn giao dịch vệ tinh, lưu động nhằm đưa thông tin đến với NLĐ và người sử dụng lao động, như: Phú Thọ, Thái Nguyên, Hà Tĩnh, Quảng Trị, Bình Dương, Đồng Nai... Ngoài ra, các Trung tâm cũng chủ động phối hợp với cơ sở đào tạo, các doanh nghiệp tổ chức các hoạt động giao dịch việc làm dành riêng thanh niên, sinh viên mới tốt nghiệp; tư vấn, định hướng nghề nghiệp cho học sinh trong các trường phổ thông, các cơ sở đào tạo cũng như tư vấn, giới thiệu việc làm cho các đối tượng lao động yếu thế như người khuyết tật, người dân tộc thiểu số…
     Ước thực hiện giai đoạn 2016-2018 các Trung tâm đã tổ chức tư vấn, giới thiệu việc làm cho khoảng 8,944 triệu lượt người (năm 2016: 2,979 triệu lượt người; năm 2017: 2,984 triệu lượt người; năm 2018: dự kiến 2,981 triệu lượt người), trong đó số tìm được việc làm khoảng 2,85 triệu lao động (năm 2016: 0,939 triệu lượt người; năm 2017: 0,953 triệu lượt người; năm 2018: dự kiến 0,957 triệu lượt người). Số lao động tìm được việc làm qua hệ thống Trung tâm DVVL trong giai đoạn 2016-2018 chiếm 31,86% so với tổng số lượt người được tư vấn, giới thiệu việc làm.
1.2. Về thu thập, cập nhật, phân tích và dự báo thị trường lao động
     - Cơ sở dữ liệu cung, cầu lao động
     Hoạt động thu thập, cập nhật cơ sở dữ liệu về TTLĐ giai đoạn 2016-2018 đã được dự án hỗ trợ 58,125 tỷ đồng (năm 2016: 16,64 tỷ đồng, năm 2017: 22,445 tỷ đồng, năm 2018: 19,04 tỷ đồng). Đến nay, đã có được bộ cơ sở dữ liệu gốc về TTLĐ tương đối đầy đủ.
     Phần cung lao động: dữ liệu được cập nhật hàng năm cả Trung ương và địa phương. Cơ sở dữ liệu cung lao động được khai thác trực tuyến từ cấp tỉnh, cấp huyện đến cấp thôn, xã; các chỉ tiêu về lao động, việc làm; tình hình biến động lao động - việc làm ở các địa phương. Đây là cơ sở quan trọng trong hoạch định chính sách lao động, việc làm và phổ biến thông tin TTLĐ.
     Phần cầu lao động: Cơ sở dữ liệu cầu lao động khai thác các thông tin về doanh nghiệp như: tình hình sử dụng lao động của các doanh nghiệp trên toàn quốc; sự biến động lao động theo nghề, trình độ đào tạo của các địa phương; nhu cầu tuyển dụng từng loại lao động…
     - Điều tra thị trường lao động
     Giai đoạn 2016-2018, Dự án đã bố trí kinh phí tổ chức điều tra nhu cầu sử dụng lao động trong các loại hình doanh nghiệp (năm 2016: 3 tỷ đồng, năm 2017: Không bố trí kinh phí; năm 2018: 6 tỷ đồng). Năm 2016, do kinh phí phân bổ muộn (thời điểm phân bổ vào cuối năm) nên kinh phí được chuyển sang năm 2017 để tổ chức điều tra. Số doanh nghiệp điều tra năm 2017 là 7.000 doanh nghiệp; năm 2018 là 12.000 doanh nghiệp, 4200 NLĐ làm việc trong khu công nghiệp, khu chế xuất.
     Kết quả điều tra TTLĐ đều được phổ biến rộng rãi tới các đơn vị liên quan đến lĩnh vực lao động, việc làm, được xuất bản dưới dạng ấn phẩm, báo cáo chuyên đề… Kết quả điều tra đánh giá được thực trạng tuyển dụng, sử dụng lao động; sự gắn kết giữa đào tạo nghề và tình hình sử dụng lao động; mức độ đáp ứng nhu cầu lao động của doanh nghiệp đối với NLĐ; cung cấp thông tin làm cơ sở phục vụ dự báo về nhu cầu sử dụng lao động.
     - Phân tích thông tin, dự báo thị trường lao động
     Song song với các hoạt động thu thập, cập nhật cơ sở dữ liệu cung cầu lao động, điều tra TTLĐ, dự án cũng tổ chức phân tích thông tin, dự báo TTLĐ trong ngắn hạn, dài hạn góp phần từng bước hoàn thiện hệ thống thông tin TTLĐ, cụ thể:
Giai đoạn 2016-2018, hoạt động phân tích, dự báo thông tin TTLĐ được đẩy mạnh nhằm phục vụ công tác dự báo nguồn nhân lực, hoạch định chính sách về lao động - việc làm. Trong 3 năm, dự án đã bố trí 3,17 tỷ đồng (năm 2016: 0,35 tỷ đồng; năm 2017: 1,57 tỷ đồng; năm 2018: 1,25 tỷ đồng) để phân tích các vấn đề như: cung lao động và các nhân tố ảnh hưởng; cầu lao động và các nhân tố ảnh hưởng; tác động của CMCN 4.0 đến việc làm; kỹ năng của NLĐ; nhu cầu sử dụng lao động trong các loại hình doanh nghiệp; xu hướng việc làm Việt Nam; dự báo TTLĐ Việt Nam đến năm 2030.
     - Phát triển mạng thông tin việc làm của các Trung tâm DVVL và của cả hệ thống DVVL.
     Trong hai năm 2017-2018, dự án đã chi 10,8 tỷ đồng (năm 2017: 5,9 tỷ đồng; năm 2018: 4,9 tỷ đồng) để phát triển mạng thông tin việc làm, hoàn thiện cơ sở dữ liệu người tìm việc, việc tìm người, nâng cao hiệu quả các hoạt động kết cung, cầu lao động tại các Trung tâm DVVL. Các tỉnh, thành phố trên cả nước tập trung vào nâng cấp, phát triển mạng thông tin internet tại từng trung tâm dịch vụ việc làm; hỗ trợ các hoạt động thu thập, cập nhật cơ sở dữ liệu người tìm việc, việc tìm người; nâng cấp, hoàn thiện cổng thông ti
n việc làm Việt Nam giúp các đối tượng có nhu cầu dễ dàng tiếp cận hơn về thông tin việc làm.

1

Ảnh 1: Cục Việc làm, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội tổ chức Hội nghị 
Đánh giá 3 năm thực hiện dự án phát triển thị trường lao động và việc làm khu vực miền Nam

2

Ảnh 2: Toàn cảnh Hội nghị đánh giá 3 năm thực hiện dự án phát triển thị trường lao động
và việc làm khu vực miền Nam

2. Đánh giá phát triển hệ thống thông tin thị trường lao động ở Việt Nam giai đoạn 2016-2018
2.1. Những kết quả đạt được
     Qua gần 3 năm thực hiện (giai đoạn 2016-2018), hệ thống thông tin TTLĐ đã đạt được những kết quả nhất định, đóng góp vào sự thành công bước đầu của Chương trình Giáo dục nghề nghiệp - Việc làm và An toàn lao động của nước ta. Cụ thể như sau:
     - Các cơ chế, chính sách về chế độ thu thập, báo cáo các chỉ tiêu thông tin TTLĐ và tổ chức thực hiện từ Trung ương đến địa phương được ban hành và thực hiện tạo hành lang pháp lý cho hoạt động thu thập thông tin TTLĐ.
     - Hoạt động giao dịch việc làm ngày càng được quan tâm và thực hiện thường xuyên qua nhiều hình thức phong phú như sàn giao dịch việc làm, hội chợ việc làm, tháng việc làm, điểm hẹn việc làm...
     - Cơ sở dữ liệu được thu thập đầy đủ, cập nhật thường xuyên, nguồn cung cấp thông tin ngày càng đa dạng, chứa đựng nhiều nội dung, phần nàp đáp ứng nhu NLĐ và người sử dụng lao động cũng như của các nhà quản lý, nhà hoạch định chính sách.
     - Mạng thông tin TTLĐ được dần hoàn thiện, hệ thống mạng máy tính đã được đầu tư triển khai đến cấp huyện. Thông tin về TTLĐ được trực tiếp nhập vào cơ sở dữ liệu địa phương hoặc gián tiếp thông qua internet. Các cơ quan quản lý và NLĐ có thể thường xuyên tiếp cận và cập nhật dữ liệu phục vụ nhu cầu về việc làm.
2.2. Hạn chế tồn tại và nguyên nhân
     Hạn chế, tồn tại
     - Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Tài chính giao vốn cho các dự án không chi tiết nguồn vốn cho từng nội dung thực hiện, cơ quan quản lý chương trình chỉ được hướng dẫn chỉ tiêu chuyên môn, không được hướng dẫn kinh phí, điều này gây khó khăn cho địa phương trong công tác phân bổ nguồn lực phù hợp với mục tiêu, nhiệm vụ được giao.
     - Nguồn kinh phí được phân bổ thấp và chậm so với kế hoạch, ảnh hưởng đến việc thực hiện các mục tiêu của dự án. Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội không nắm được thông tin về tình hình phân bổ vốn đầu tư cho các Trung tâm để kịp thời theo dõi, giám sát, đánh giá việc triển khai thực hiện cũng như kịp thời kiến nghị, đề xuất hướng xử lý (hiện nay chỉ có 7/21 Trung tâm DVVL thuộc ngành Lao động - Thương binh và Xã hội được đầu tư theo đúng kế hoạch), chỉ đạt 27,8%.
     - Phương pháp, cách thức thu thập, cập nhật cơ sở dữ liệu cung - cầu lao động còn thủ công, chưa áp dụng tiến bộ của thời đại công nghệ thông tin. Tính kịp thời, đầy đủ của thông tin chưa phát huy được hiệu quả trong thực tiến.
     - Công tác phân tích, dự báo TTLĐ trong ngắn hạn và dài hạn chưa thực sự bám sát thực tiễn, thiếu khả năng kết hợp thông tin từ nhiều nguồn khác nhau; chưa có sự phối hợp chặt chẽ từ các tổ chức cung cấp thông tin. Điều này gây khó khăn cho việc quản lý và hoạch định chính sách đào tạo và sử dụng nguồn nhân lực.
Nguyên nhân của những tồn tại
     - Do thời gian phân bổ nguồn kinh phí không ổn định ở từng khoảng thời điểm (năm 2016 - 2017 phân bổ cuối năm; năm 2018 phân bổ đầu năm) nên việc triển khai ở các tỉnh/thành phố có sự khác nhau.
     - Việc thu thập cơ sở dữ liệu cung - cầu lao động còn gặp nhiều khó khăn, do các địa phương chưa ý thức được trách nhiệm phải làm của mình. Năm 2016 có 58/63 tỉnh/thành phố triển khai (05 địa phương không triển khai là Bình Phước, Bình Thuận, Đắk Nông, Ninh Thuận, Nghệ An), tổng số hộ đã thu thập được là 18.933.112 hộ, số doanh nghiệp thu thập là 311.115 doanh nghiệp; năm 2017 có 61/63 tỉnh/thành phố triển khai (02 địa phương không triển khai là Lâm Đồng và Bình Thuận), tổng số hộ đã thu thập được là 22.572.684 hộ, tổng số doanh nghiệp thu thập là 393.540 doanh nghiệp; năm 2018 có 62/63 tỉnh/thành phố triển khai (Cà Mau không triển khai), các địa phương đang trong quá trình hoàn thiện dữ liệu.
     - Việc thu thập số liệu khó khăn vì trên thực tế một số liệu được nhiều đơn vị công bố với các thông số khác nhau, gây khó khăn cho việc phân tích và dự báo về lao động, việc làm. Bên cạnh đó, quy mô mẫu điều tra ở các địa phương là rất nhỏ, hầu như không có tác dụng trong việc đưa ra một thông tin chính xác nhất về thực trạng TTLĐ
     - Các dữ liệu được lưu trữ, quản lý một cách thủ công, thô sơ. Những năm trước đây việc lưu trữ này được thực hiện chủ yếu trên sổ sách, gây khó khăn cho việc khai thác, tìm kiếm và sử dụng.
     - Trang thiết bị thông tin, hệ thống máy vi tính, công nghệ phần mềm... còn quá thiếu và lạc hậu. Việc triển khai hoạt động qua internet mới chỉ thực hiện được ở các thành phố lớn, chưa nhân rộng được ra phạm vi cả nước.
3. Giải pháp phát triển hệ thống thông tin thị trường lao động ở Việt Nam giai đoạn 2019-2020
     Nhằm đẩy mạnh và nâng cao hiệu quả thực hiện dự án phát triển TTLĐ và việc làm, góp phần thực hiện các mục tiêu đã đặt ra trong giai đoạn 2019-2020, Bộ Lao động -Thương binh và Xã hội (Cục Việc làm) sẽ tập trung thực hiện các giải pháp sau:
     - Hỗ trợ các địa phương tổ chức giao dịch việc làm tại các sàn giao dịch việc làm; các phiên giao dịch việc làm lưu động đảm bảo thông tin việc làm tới được với mọi người dân, đặc biệt là đối tượng sinh viên, thanh niên, lao động nông thôn ở vùng sâu, vùng xa.
     - Thực hiện thu thập, cập nhật cơ sở dữ liệu cung - cầu lao động theo hướng gắn kết với các cuộc khảo sát, thống kê như: tổng điều tra dân số; điều tra doanh nghiệp… Tổ chức điều tra, khảo sát thị trường lao động phục vụ công tác quản lý, phân tích và dự báo TTLĐ, đảm bảo đáp ứng cho yêu cầu phát triển KT-XH của đất nước.
     - Hướng dẫn việc xây dựng cơ sở dữ liệu việc tìm người, người tìm việc cho hệ thống Trung tâm DVVL; triển khai thực hiện Dự án mạng thông tin việc làm Việt Nam; tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động giao dịch, kết nối việc làm.
     - Xây dựng, nâng cấp các phần mềm dùng chung, nâng cấp cổng thông tin điện tử việc làm; nâng cao năng lực Trung tâm tích hợp dữ liệu thị trường lao động… phục vụ cho công tác quản lý lao động, việc làm, hoạt động của hệ thống Trung tâm DVVL và góp phần kết nối hệ thống Trung tâm DVVL trên phạm vi toàn quốc.
     “Dự án phát triển TTLĐ và việc làm” qua gần ba năm thực hiện đã góp phần nâng cao năng lực của hệ thống Trung tâm DVVL, dần hoàn thiện hệ thống thông tin TTLĐ... Qua phân tích đánh giá thực trạng của hệ thống thông tin TTLĐ trên phạm vi cả nước, Cục việc làm Bộ Lao động -Thương binh và Xã hội thực hiện những biện pháp nhằm phát huy hiệu quả cao hơn nữa đối với những hoạt động như: tư vấn, giới thiệu việc làm cho NLĐ; cung cấp thông TTLĐ miễn phí; cung ứng lao động theo yêu cầu của người sử dụng lao động; thu thập thông tin TTLĐ và xuất bản các bản tin TTLĐ; đào tạo kỹ năng cho NLĐ; thực hiện các chương trình, dự án việc làm… góp phần thực hiện mục tiêu Giáo dục nghề nghiệp - Việc làm và An toàn lao động giai đoạn 2016-2020 của Chính phủ.

Nguồn tin: Tạp chí Giáo dục

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

Hotline
Thăm dò ý kiến

Bạn thấy website này như thế nào?

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây