PHÁT TRIỂN THEO HƯỚNG MỞ, LINH HOẠT, LIÊN THÔNG DIỆN MẠO MỚI CỦA GIÁO DỤC NGHỀ NGHIỆP

Thứ ba - 16/10/2018 10:48

PHÁT TRIỂN THEO HƯỚNG MỞ, LINH HOẠT, LIÊN THÔNG DIỆN MẠO MỚI CỦA GIÁO DỤC NGHỀ NGHIỆP

TS. Phan Chính Thức

Hiệp hội GDNN&NCTXH VN

     Văn kiện đại hội Đảng lần thứ X (năm 2006) nêu quan điểm: “Chuyển dần mô hình giáo dục hiện nay sang mô hình giáo dục mở - mô hình xã hội học tập với hệ thống học tập sut đời, đào tạo liên tục, liên thông giữa các bậc học, ngành học; xây dựng và phát triển hệ thông học tập cho mọi người và những hình thức học tập, thực hành linh hoạt, đáp ứng nhu câu học tập thường xuyên; tạo nhiều khả năng, cơ hội khác nhau cho người học, bảo đảm sự công bằng xã hội trong giáo dục [1]. Khi bàn về đổi mới cơ bản, toàn diện GD-ĐT, Nghị quyết 29/NQ-TW chủ trương “Đổi mới hệ thống giáo dục theo hưởng mở, linh hoạt, liên thông giữa các bậc học, trình độ và giữa các phương thức giáo dục, đào tạo... [2]. Đi với Giáo dục nghề nghiệp (GDNN) Nghị quyết 19/NQ-TW định hướng “Sắp xếp, t chức lại hệ thông cơ sở giáo dục ngh nghiệp theo hướng mở và linh hoạt đáp ứng nhu cầu nhân lực của thị trường lao động[3].

     Thể chế hóa chủ trương trên, nhiều văn bản quan trọng liên quan đến phát triển giáo dục và GDNN theo hướng mở, linh hoạt như: Đề án Xây dựng xã hội học tập giai đoạn 2012-2020, Đề án đào tạo nghề cho lao động nông thôn giai đoạn 2009-2020, Đề án ứng dụng công nghệ thông tin-truyền thông đến 2025 và tầm nhìn đến 2030 được Chính phủ phê duyệt và triển khai thực hiện. Mới đây tại Dự thảo Luật Giáo dục sửa đổi quy định: “Hệ thống giáo dục quốc dân là hệ thống giáo dục mở, liên thông gồm giáo dục chỉnh quy và giáo dục thường xuyên”.

Phát triển hệ thống GDNN theo hướng mở và linh hoạt là xu hướng tất yếu, khách quan góp phần thực hiện phương châm học suốt đời và xây dựng xã hội học tập nhằm nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, nâng cao sức cạnh tranh của nền kinh tế, nhất là trong bối cảnh hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng và CMCN 4.0 đang tác động mạnh mẽ đến tất cả các lĩnh vực đời sống xã hội, mang đến cả những thách thức và cơ hội cho sự phát triển của giáo dục trong đó có GDNN.

     Phần bàn luận sau, tác giả chia sẻ một số vấn đề cần được quan tâm trong phát triển hệ thống GDNN theo hướng mở, linh hoạt.

1. Hình thành hệ thống giáo dục mở và giáo dục nghề nghiệp theo hướng mở, linh hoạt

     Có ý kiến cho rng giáo dục mở mới xuất hiện vào những năm 2005, tuy nhiên cũng có ý kiến cho rằng giáo dục mở và GDNN mở, linh hoạt đã xuất hiện và tồn tại từ trước đó khá lâu. Tự thân GDNN từ xa xưa, trong suốt quá trình hình thành và phát triển đã mang tính “mở”. Các hình thức học trên lưng trâu, kèm cặp theo kiểu cầm tay chỉ việc, truyền nghề, bình dân học vụ, học buổi tối, dạy tại thôn bản buôn sóc, dạy tại sản xuất, tại doanh nghiệp, tại đồng ruộng, học trên luống cày, học tại công trường, tại chiến trường, học qua tích lũy kinh nghiệm lao động sản xuất, cập nhật kiến thức kỹ thuật công nghệ, học từ xa, đào tạo nghề thường xuyên, đào tạo người lớn tuổi, đào tạo trực tuyến, học suốt đời, xã hội học tập... đã mang tính “mở và linh hoạt” dưới góc độ tạo cơ hội thuận lợi cho mọi người được thực hiện quyền học tập dưới mọi hình thức, ở mọi lúc, mọi nơi, học suốt đời trong suốt cuộc đời lao động Mở và linh hoạt là thuộc tính của giáo dục và rất đậm nét trong GDNN.

     Những năm gần đây dưới góc nhìn mới vị thế, vai trò của giáo dục mở và GDNN mở được nâng tầm nhận thức ở mức hình thành chủ trương, đường lối (Nghị quyết của Đảng), được chế định hóa (dự thảo Luật Giáo dục), được nghiên cứu triết lý và lý luận thông qua các công trình, đề tài nghiên cứu và các Hội thảo trong nước và quốc tế. Và điều quan trọng hơn là bước đầu đã được triển khai trên cơ sở khoa học tại một số cơ sở GDNN.

Giáo dục mở, GDNN mở là tiền đề, là điều kiện để thực hiện học suốt đời và tiến tới xã hội học tập.

2. Khái niệm về giáo dục và giáo dục nghề nghiệp theo hướng mở, linh hoạt

     Có nhiều định nghĩa, cách hiểu khác nhau về hình hài, cấu trúc, nguyên tắc, đặc trưng, yêu cầu, nội dung... của GDNN mở, linh hoạt tùy theo góc nhìn về quản lý, về khoa học về kinh tế và về thực tiễn. Tuy nhiên hiện nay có 2 khái niệm mang tính quốc tế hóa và gần gũi hơn với GDNN đó là:

     - Góc độ rỡ bỏ rào cản: Mở là rỡ bỏ tất cả rào cản trọng hoạt động đào tạo đối với người lao động để họ học nghề, khởi nghiệp, có việc làm bền vững. Rỡ bỏ rào cản về pháp lý, tài chính và kỹ thuật trong đó rào cản lớn nhất và phổ biến là những chế định không phù hợp, gây cản trở; đặc biệt là các thủ tục hành chính. R bỏ rào cản để giải phóng và huy động mọi tiềm năng trong xã hội tham gia hoạt động và phát triển GDNN.

     - Góc độ công bằng cơ hội: Mở là tạo cơ hội thuận lợi cho mọi người tiếp cận với các dịch vụ GDNN, ai cũng có cơ hội học tập, ai cũng được xã hội tạo điều kiện và không loại trừ bt cứ ai trong xã hội được học nghề, khởi nghiệp, hành nghề và có được việc làm bên vững. Điu này phù hợp với thông điệp của Liên hợp quốc: “Ai cũng có quyền được làm việc, được tự do lựa chọn việc làm... “Ai cũng có quyền được hưởng giáo dục. Giáo dục phải được min phí ít nhất ở cấp sơ đẳng và căn bản. Giáo dục sơ đẳng có tính cách cưỡng bách. Giáo dục kỹ thuật và chuyên nghiệp phải được phổ cập… [4].      Trong thông điệp trên, cụm t phi được ph cập đã khng định tinh mở của GDNN.
     
Luật pháp của Việt Nam cũng quy định tương tự: “Công dân có quyền và nghĩa vụ học tập”  [5],   1) Bảo đảm quyền làm việc, tự do lựa chọn việc làm và nơi làm việc; 2) Bình đẳng về cơ hội việc làm và thu nhập [6]. Mục tiêu thứ 4 trong 17 mục tiêu phát triển bền vừng (SDGs) của Liên Hiệp quốc đến năm 2030 là: “Đảm bảo giáo dục chất lượng, rộng mở, công bằng và nâng cao cơ hội học tập suốt đời cho tất cả mọi người”.

     Chủ đề của Hội thảo: “Phát triển hệ thống GDNN mở, linh hoạt tạo cơ hội cho người lao động học nghề-lập nghiệp-việc làm bền vững” đã khái quát hướng tiếp cận theo nội hàm của cả 2 khái niệm nêu trên.

3. Định vị và cấu trúc của hệ thống giáo dục nghề nghiệp theo hướng mở, linh hoạt liên thông trong xã hộỉ học tập

     - GDNN là một phân hệ của hệ thống giáo dục quốc dân thống nhất. Vì vậy GDNN mở cũng là thành tố của hệ thống giáo dục mở, hoạt động và phát triển trong môi trường giáo dục mở. Cả 4 phân hệ giáo dục mần non, giáo dục phổ thông, giáo dục đại học, và GDNN nhất thiết phải cùng mở, linh hoạt, liên thông đồng bộ và không là rào cản của nhau.

     - GDNN mở không phải là hệ thống khác, riêng biệt, độc lập tồn tại bên cạnh hệ thống GDNN hiện hành, tính chất mở, linh hoạt được đan xen, xâm nhập và thẩm thấu vào hệ thống GDNN hiện hành. Dự thảo Luật Giáo dục sửa đi đã duy danh: “Hệ thống giáo dục quốc dân là hệ thống giáo dục mở, liên thông gồm giáo dục chính quy và giáo dục thường xuyên [7]. Hai thành tố của hệ thống GDNN là đào tạo chính quy và đào tạo thường xuyên đều phải t chức, quản lí và triển khai các hoạt động đào tạo theo hướng mở, linh hoạt và liên thông.

     Công ước của Tổ chức Lao động quốc tế (ILO) về Hướng nghiệp và đào tạo nghề trong phát triển nguồn nhân lực (năm 1975) đã yêu cầu: “Mỗi nước thành viên thiết lập và phát trỉến các hệ thống giáo dục ph thông, kỹ thuật và đào tạo nghề mở, linh hoạt có khả năng h trợ và b sung cho nhau cho dù các hoạt động này din ra trong hệ thống giáo dục chính thức hay bên ngoài nó” [8].  Điều đó cũng xác định hệ thống GDNN mở, linh hoạt không có cấu trúc độc lập mà đan xen xâm nhập vào hệ thống giáo dục hiện hành.

4. Đặc thù của hệ thống giáo dục nghề nghiệp mở trong chỉnh thể hệ thống giáo dục mở

     Tính mở và linh hoạt trong GDNN có điểm chung với giáo dục mở nhưng cũng cần nhấn mạnh đến đặc thù riêng:

     - Mở, linh hoạt đa chiều: Đối tượng tham gia là số đông (chiếm khoảng 87%) lao động qua đào tạo do hệ thống GDNN đảm trách. Các đối tượng tham gia rt đa dạng bao gồm cả nhóm yếu thế, thiệt thòi, nghèo, cận nghèo, người lao động ở nông thôn vùng sâu, vùng xa, vùng có điều kiện KT-XH đặc biệt khó khăn. Cơ hội học nghề, khởi nghiệp và việc làm hạn chế hơn. Yêu cầu GDNN phải mở và linh hoạt đa chiều đến với mọi người trong học tập suốt đời và trong xã hội học tập.

     - Mục tiêu của GDNN là cung cấp nhân lực trực tiếp trong sản xuất,  kinh doanh và dịch vụ, ở đó thị trường việc làm thay đổi với tần xuất cao, chu kỳ thời gian, chuyển đổi nghề nghiệp và di chuyển việc làm ngắn hơn; yêu cầu GDNN phải linh hoạt trong tuyển sinh (một số trình độ đào tạo nghề yêu cầu đầu vào không đồng nhất), mở ngành nghề, phát triển các chương trình đáp ứng nhu cầu thị trường, thực hiện tư vấn và hướng nghiệp trước, trong và cả sau quá trình đào tạo.

     - Thích ứng nhanh thị trường việc làm: Bản chất giáo dục luôn chậm pha và có độ trễ so với nhu cầu xã hội; nhưng đối với GDNN mở biên độ chậm pha nhỏ hơn và độ trễ ngắn hơn vì nhu cầu học nghề của mọi người lao động và việc làm của thị trường lao động luôn biến động. Phát triển GDNN phát triển theo hướng mở, linh hoạt là tất yếu để thích ứng nhanh, mềm dẻo và linh hoạt linh hoạt về nội dung, thời gian, địa điểm, phương thức đào tạo... để đáp ứng nhu cầu sản xuất và thị trường việc làm.

5. Mối quan hệ về chất lượng và quy mô trong phát triển giáo dục nghề nghiệp mở, linh hoạt

     Trong giáo dục luôn luôn tồn tại mâu thuẫn nội tại giữa quy mô và chất lượng, GDNN mở cũng không nằm ngoài mâu thuẫn trên.

     - Chất lượng giáo dục, chất lượng đào tạo trong GDNN là bất biến. Mặt trái và thách thức với GDNN mở là các cơ sở đào tạo có thể ít quan tâm đến chất lượng khi phải thích ứng linh hoạt và nhanh nhạy với bài toán kinh tế của thị trường. Tuy nhiên không vì quy mô mà dễ dãi với chất lượng, buông lỏng kiểm soát và quản lý chất lượng. Chất lượng xác định mức độ đạt được mục tiêu đào tạo. Sản phẩm đầu ra của hệ thống GDNN mở phải là nhng con người chủ động, sáng tạo, có tư duy phản biện, có kiến thức (lý thuyết và thực tế) và kỹ năng (kỹ năng nghề nghiệp, kỹ năng sống, kỹ năng giao tiếp, kỹ năng số ..) để thích ứng linh hoạt với các tình huống xảy ra trong công việc, tự chủ, tự chịu trách nhiệm với công việc của mình...

     - Để tăng quy mô đào tạo cần thích ứng linh hoạt và mở theo hướng đa chiều: mở về tư duy, đa dạng về loại hình cơ sở đào tạo nghề, địa điểm đào tạo, chương trình đào tạo, thời gian đào tạo, phương pháp đào tạo, đội ngũ nhà giáo và nguồn lực tham gia hoạt động đào tạo... Thích ứng còn thể hiện sự thông thoáng, mở, linh hoạt trong tuyển sinh (đầu vào), mở mang thêm ngành, nghề mới mà xã hội có nhu cầu, nhưng cần tăng cường giám sát chặt chẽ và đảm bảo chất lượng đầu ra.

6. Nguồn tài nguyên mở, học liệu mở và ứng dụng công nghệ thông tin trong hệ thống giáo dục nghề nghiệp theo hướng mở, linh hoạt

     Chia sẻ là đặc điểm cơ bản nhất của hệ thống GDNN mở, linh hoạt vì vậy:

     - Nguồn tài nguyên mở - là điều kiện hàng đầu để bảo đảm cho tính khả thi và hiệu quả của hệ thống GDNN mở.

    - Tài nguyên giáo dục mở, nguồn học tư liệu mở, nguồn tư liệu học tập mở được hiểu là những tài nguyên dạy học và nghiên cứu được tự do chia sẻ, khai thác, không có rào cản về pháp lý, tài chính và kỹ thuật, có thể hoàn toàn được sử dụng và tùy biến thích nghi trong môi trường số.

     - Tối đa hóa sức mạnh của công nghệ thông tin, Internet để người học truy cập nhiều hơn, có hiệu quả hơn khi tiếp cận với cơ hội học nghề.

7. Phát triển giáo dục nghề nghiệp mở, linh hoạt với việc làm bền vững

     Mục tiêu cuối cùng của đào tạo là việc làm, nếu người học sau khi đào tạo mà không có việc làm hoặc nhà trường đào tạo những nội dung mà thị trường việc làm không cần đến thì coi như không thành công. Đào tạo và việc làm là hại mặt gắn kết không thể tách rời của một quá trình. Việc làm bền vững vừa là mục tiêu, vừa là động lực của GDNN và ở chiều ngược lại GDNN là nền tảng là chìa khóa để phát triển việc làm bền vững.

     Tại Hội thảo quốc tế “Đào tạo nghề giữ vai trò trọng tâm của các chính sách phát triển” năm 2007 do Tổ chức văn hóa khoa học liên hợp quốc (UNESCO), Cơ quan phát triển Pháp (AFD), Cơ quan hợp tác phát triển Đức (GIZ) tổ chức tại Paris đã đưa ra thông điệp: “Một hệ thống đào tạo nghề đổi mới không thể được nhìn nhận bên ngoài chiến lược chung về tạo việc làm [9].
     
Quyền được học, quyền được phổ cập nghề và quyền có việc làm có mối quan hệ hữu cơ, chặt chẽ với nhau và được quy định ti Tuyên ngôn nhân quyền như sau: “Ai cũng có quyn được làm việc, được tự do lựa chọn việc làm, được hưởng những điều kiện làm việc công bằng và thuận lợi và được bảo vệ chống thất nghiệp” [10].
     
Khoản 1- Điều 35 của Hiến pháp Việt Nam quy định: “Công dân có quyền làm việc, lựa chọn nghề nghiệp, việc làm và nơi làm việc” [5].

8. Quyền tự chủ và trách nhiệm giải trình trong hệ thống giáo dục nghề nghiệp theo hướng mở, linh hoạt

     Phát triển GDNN theo hướng mở, linh hoạt với điều kiện trao quyền tự chủ đầy đủ và toàn diện cho các cơ sở GDNN, chỉ có như vậy mới triển khai giáo dục mở một cách chủ chủ động và hiệu quả. Tuy nhiên tự chủ phải trong phạm vi, giới hạn và thực hiện trách nhiệm giải trình công khai trong nội bộ (trước các đơn vị và thành viên trong cơ sở GDNN) và với bên ngoài (Nhà nước, cộng đồng, xã hội). “Nhiều khả năng sức mạnh từ sự trao quyền là khởi nguồn cho một trong những tác động lớn lao nhất [11] ở tất cả các lĩnh vực kinh tế - xã hội - văn hóa trong đó có GDNN. Các cơ sở GDNN được trao quyền tự chủ phải nhận thức được rằng họ là một phần của hệ thống và cần phải có mức độ hợp tác cao hơn mới có thê thành công.

     Yếu tố quan trọng nhất của tự chủ phải đảm bảo tính “bất biến” về chất lượng của GDNN. Mô hình tự chủ phải gắn với trách nhiệm giải trình theo hướng đảm bảo chất lượng; sử dụng kiểm định chất lượng như là công cụ quản lý của nhà nước đ kim soát chất lượng đào tạo, là căn cứ để giao quyn tự chủ cho cơ sở GDNN.

     Thông qua bảo đảm chất lượng, quyền tự chủ và trách nhiệm giải trình của các cơ sở GDNN cũng được nâng cao.

Thực tiễn cho thấy không thể ngay một lúc giao quyền tự chủ, trách nhiệm giải trình hoàn toàn cho tất cả các cơ sở GDNN. Mặt khác, khi được giao quyền tự chủ, một số cơ sở có thể lạm dụng quyền tự chủ tùy tiện mở rộng quy mô đào tạo mà không quan tâm đến chất lượng. Nếu sản phẩm trong sản xuất có khuyết tật thì loại bỏ, nhưng sản phẩm của GDNN là con người không thể loại bỏ. Bởi vậy, giao quyền tự chủ cho cơ sở GDNN cần phải nhấn mạnh đến trách nhiệm giải trình về chất lượng trước pháp luật, cộng đồng và xã hội.

9. Vai trò động lực và thúc đấy của doanh nghiệp đối với sự phát triển hệ thống giáo dục nghề nghiệp theo hướng mở, linh hoạt
     
Thực chất đào tạo nghề là đào tạo tại sản xuất, tại các doanh nghiệp. Nhà Giáo dục học người Nga X.I. Batusep viết: "Giáo dục học và giáo dục học nghề nghiệp có nét khác biệt. Dạy thực hành trong các trường dạy nghề là một đặc đim, chính việc dạy thực hành là một bộ phận quan trọng nhất của giáo dục học nghề nghiệp [12].

     Như vậy, có thể nói đào tạo nghề chủ yếu là đào tạo thực hành trong hoạt động sản xuất, kinh doanh và dịch vụ. Khuyến nghị về mô hình giáo dục sẵn sàng cho tương lai đề xuất 8 lĩnh vực hành động chủ chốt trong đó có: “Tiếp xúc sớm với vị trí việc làm và tư vấn hướng nghiệp thường xuyên, liên tục [13]..

     Doanh nghiệp là đối tác tham gia vào cả quá trình đào tạo: Đầu vào - Quá trình Dạy và học - Đầu ra. Đồng thời doanh nghiệp tham gia sâu và đa chiều vào hệ thống GDNN từ ý tưởng; xây dựng chiến lược, quy hoạch; tuyển sinh; ươm tạo khởi nghiệp; phát triển cơ sở đào tạo tại doanh nghiệp, liên kết đào tạo, đặt hàng đào tạo; địa điểm đào tạo; phát triển chương trình, linh hoạt về thời gian, đa dạng về phương pháp; đánh giá chất lượng đào tạo; chia sẻ nguồn lực, tài chính, tài nguyên mở, học liệu mở và đào tạo trực tuyến và cùng tư vấn, hướng nghiệp và tạo việc làm.

     Doanh nghiệp phải song hành với GDNN trong việc định hình và phát triển hệ thống theo hướng mở, linh hoạt với tư cách là chủ thể của quá trình đào tạo.

10. Tác động cách mạng công nghiệp 4.0 đến giáo dục nghề nghiệp mở, linh hoạt

     CMCN 4.0 với độ phức tạp và tích hợp nhiều công nghệ khác nhau làm thay đổi từng hệ thống, giữa các hệ thống và toàn bộ đời sống xã hội, trong đó có GDNN. Tuy rng, thành quả của 3 cuộc cách mạng trước đây còn chưa đến được với người dân ở các nước chưa và đang phát triển, nhưng chắc chắn họ sẽ vẫn chịu tác động của CMCN 4.0.

     - Đi với việc làm: Theo Klaus Schwab, CMCN 4.0 tác động đến việc làm theo tác động đi nghịch giữa Hiệu ứng triệt tiêu (một số nghề mất đi theo đó là tht nghiệp và chuyn đi ngh...) và Hiệu ứng tư bản (xuất hiện nghề mới, việc làm mới và cơ hội kinh doanh mới...). “Các cuộc cách mạng công nghệ thường thổi bùng những lo ngại về thất nghiệp khi máy móc làm tất cả mọi việc” [14]. Vì vậy, khả năng khan hiếm lao động có kỹ năng cao là rào cản đối với đổi mới sáng tạo, năng lực cạnh tranh và tăng trưởng. Năng xuất lao động, yếu tố quan trọng nhất để quyết định tăng trưởng dài hạn và nâng cao chất lượng cuộc sống là yêu cầu bức thiết và khắc nghiệp của thị trường việc làm trong cuộc CMCN 4.0.

     - Đối với GDNN: Quy mô và tốc độ của sự đổi mới công nghệ xét trên cả hai phương diện: sự phát triển và tính phổ biến diễn ra nhanh hơn bao giờ hết.       Bên cạnh tốc độ và quy mô còn tích hợp rất nhiều lĩnh vực khác nhau, tất cả phát minh công nghệ mới đều có đặc điểm chung là tận dụng sức mạnh của số hóa và công nghệ thông tin. Các ngành nghề mới xuất hiện, chương trình đào tạo có tính liên ngành, để người học có kiến thức nền tảng, từ đó hình thành kỹ năng sáng tạo và thích ứng với nhiều công việc khác nhau. Sự thay đổi nhanh chóng của công nghệ đòi hỏi nguồn nhân lực có năng lực thích ứng nhanh. Cơ cấu trình độ, sự phân tầng chất lượng sẽ phá vỡ những cách thức đào tạo truyền thống, cứng nhắc, hình thành hệ thống trường lớp mở, áp dụng phương thức đào tạo linh hoạt với mục tiêu cao nhất là cung cấp nguồn nhân lực chất lượng cao và thích ứng với các chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp thay đổi.

      Cả bề rộng lẫn chiều sâu của CMCN 4.0 đều báo trước sự chuyển đổi toàn bộ hệ thống sản xuất, quản lý và quản trị của xã hội và theo đó là những thay đổi của GDNN theo hướng mở linh hoạt.

11. Khuyến nghị một số giải pháp phát triển hệ thống giáo dục nghề nghiệp theo hướng mở, linh hoạt, liên thông

     Đ phát triển hệ thống GDNN mở, linh hoạt phải bắt đầu từ “tư duy và thể chế”, một số giải pháp cần được nghiên cứu đề xuất cụ thể là:

     1. Nghiên cứu quán triệt Nghị quyết số 29-NQ/TW và Nghị quyết số 19-NQ/TW để nhận thức đầy đủ hơn về GDNN mở. Nhận thức không chỉ trong hệ thống mà điều quan trọng hơn phải đẩy mạnh truyền thông, làm cho toàn xã hội, mọi người lao động, người sử dụng lao động cùng hiểu, đồng thuận trong nhận thức và hành động phát triển GDNN theo hướng mở, linh hoạt.

     2. Đổi mới tư duy về phát triển GDNN mở, linh hoạt trong bối cảnh hội nhập quốc tế và CMCN 4.0.

     3. Xây dựng chiến lược phát triển GDNN mở, linh hoạt trong chiến lược phát triển giáo dục mở; đưa các quy định, cơ chế, chính sách vào hệ thông văn bản pháp luật. Định vị, cấu trúc hệ thống GDNN, tạo môi trường sinh thái, xây dựng các kịch bản phát triển GDNN theo hướng mở, linh hoạt và liên thông.

     4. Hệ thống GDNN, từng cấp quản lý, từng cơ sở GDNN tiến hành rà soát, loại bỏ, sửa đổi và bổ sung cơ chế, chính sách và các chế định liên quan đến phát triển hệ thống GDNN mở, giảm thiu ti đa các rào cản v thủ tục hành chính. Đây là điều kiện tiên quyết để hình thành và phát triển hệ thống GDNN mở linh hoạt và liên thông đáp ứng nhu cầu học nghề khởi nghiệp và tạo việc làm bền vững cho người lao động.

     5. Xây dựng các trung tâm tài nguyên mở, học liệu mở để lưu trữ, cập nhật, chia s miễn phí, không có rào cản về pháp lý, kỹ thuật và tài chính với tất cả những ai quan tâm. Thí điểm triển xây dựng hạ tầng cơ sở để khai thác tài nguyên mở, đào tạo trực tuyến tại các trường chất lượng cao trong hệ thống.

     6. Đi mới cách thức quản lý, cơ quan quản lý nhà nước chuyển vai trò kiểm soát sang giám sát, đối với các cơ sở GDNN chuyn sang áp dụng phương thức quản trị của doanh nghiệp vào hoạt động đào tạo;

     7. Mở rộng xã hội hóa, huy động và khuyến khích sự tham gia của khu vực tư nhân, các doanh nghiệp tham gia phát triển hệ thống và huy động đa nguồn tài chính để phát triển GDNN mở, linh hoạt.

     8. Tổ chức hoạt động nghiên cứu khoa học

     - Vcơ sở lý luận về phát triển GDNN theo hướng mở, linh hoạt, liên thông (về khái niệm, tiếp cận, định vị cấu trúc, nguyên tắc, tính đặc trưng, yêu cầu, nội dung, phương pháp, đánh giá và công nhận....);

     - Vthực tiễn phát triển hệ thống GDNN theo hướng mở, linh hoạt, liên thông (về kinh nghiệm, mô hình, tổ chức thí điểm...).

      Phát triển hệ thống GDNN theo hướng mở, lỉnh hoạt và liên thông sẽ tạo cơ hội thuận lợi cho mọi người lao động học nghề - khởi nghiệp - việc làm bền vững; góp phần đổi mới và nâng cao chất lượng GDNN. Phát triển hệ thống giáo dục theo hướng mở, linh hoạt và liên thông tạo nên diện mạo mới của GDNN trong kỷ nguyên s hóa và toàn cầu hóa.

Tài liệu tham khảo

[1] Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa IX tại Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ X.

[2] Nghị quyết 29-NQ/TW ngày 04/11/2013 về đổi mới căn bản toàn diện giáo dục và đào tạo đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế.

[3] Nghi quyết 19-NQ/TW ngày 25/10/2018 về tiếp tục đổi mới hệ thống t chức và quản lý, nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động của các đơn vị sự nghiệp công lập.

[4] Tuyên ngôn quốc tế về nhân quyền 1948 của Liên hợp quốc (khoản 1- Điều 25 và khoản 1 - Điều 26).

[5] Hiến pháp nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam năm 2013.

[6] Luật Việc làm (khoản 1 và 2 Điều 4).

[7] Dự thảo Luật Giáo dục sửa đổi (khoản 1-Điều 5).

[8] Công ước số 142 của ILO (1975).

[9] Kỷ yếu Hội thảo GEFOP năm 2007.

[10] Tuyên ngôn nhân quyền 1948 (khoản 1- Điều 23).

[11] Cách mạng công nghiệp lần thứ 4- Klaus Schwab.

[12] I.A.Batusep: Cơ sở giáo dục học nghề nghiệp.

[13] Khuyên nghị v mô hình giáo dục tương lai (Diễn đàn kinh tế thế giới 2017).

[14] http://hame.ore.vn/cuoc-cach-mang-cong-nghiep-lan-thu-tu

 

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

Hotline
Thăm dò ý kiến

Bạn thấy website này như thế nào?

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây