QUAN HỆ GIỮA PHÁT TRIỂN GIẤỌ DỤC NGHỀ NGHIỆP MỞ, LINH HOẠT VỚI VIỆC LÀM BỂN VỮNG TRONG CÁCH MẠNG CÔNG NGHIỆP 4.0

Thứ ba - 09/10/2018 15:33

QUAN HỆ GIỮA PHÁT TRIỂN GIÁO DỤC NGHỀ NGHIỆP MỞ,

LINH HOẠT VỚI VIỆC LÀM BỂN VỮNG TRONG CÁCH MẠNG CÔNG NGHIỆP 4.0

 

TS. Bùi Sỹ Lợi

Phó chủ nhiệm y ban các vấn đ xã hội Quốc hội

1. Đặc trưng của cách mạng công nghiệp lần thứ 4

Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ 4 (CMCN 4.0) đang diễn ra trên phạm vi toàn cầu, tác động đến toàn bộ đời sống xã hội. CMCN 4.0 có những đặc trưng chủ yếu sau:

- Khả năng kết nối thông qua các thiết bị di động và khả năng tiếp cận với cơ sở dữ liệu lớn, những tính năng xử lý thông tin sẽ được nhân lên bởi những đột phá công nghệ trên nhiều lĩnh vực;
- Tạo ra tốc độ phát triển theo hàm số mũ, đó là điều không có tiền lệ trong lịch sử; trong khi các cuộc cách mạng công nghiệp trước đây diễn ra với tốc độ tuyến tính;
- Làm thay đổi căn bản và tạo nên “cách mạng” về tổ chức các chuỗi sản xuất-giá trị. Bề rộng và chiều sâu của những thay đổi này báo trước sự chuyển đổi mạnh mẽ của toàn bộ hệ thống sản xuất, quản trị và việc làm.

Để đón nhận các cơ hội mà CMCN 4.0 mang lại, trước hết và quan trọng nhất là các quốc gia cần chuẩn bị trước nguồn nhân lực chất lượng cao, có năng lực sáng tạo để tăng sức cạnh tranh trong môi trường làm việc không biên giới. Khi bước vào CMCN 4.0 các nền kinh tế sẽ chuyển đổi từ mô hình tăng trưởng chủ yếu dựa vào những yếu tố truyền thống như lao động giá rẻ, đất đai, tài nguyên sang mô hình tăng trưởng dựa vào công nghệ và trình độ nguồn nhân lực - nhân tố quyết định thành công.

Điều đó đòi hỏi giáo dục nghề nghiệp (GDNN) cần nghiên cứu cách tiếp cận và chiến lược phát triển thích ứng linh hoạt với những yêu cầu việc làm và phát triển nguồn nhân lực trong CMCN 4.0.

2. Chuyển dịch cơ cấu lao động và việc làm trong kỷ nguyên cách mạng công nghiệp 4.0

- CMCN 4.0 sẽ “thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu lao động xã hội ở nhiều nước với việc tăng nhu cầu sử dụng lao động kỹ năng nghề cao, xuất hiện đông đảo tầng lớp lao động sáng tạo trong các lĩnh vực khoa học, công nghệ, thiết kế, văn hóa, nghệ thuật, giải trí, truyền thông, giáo dục, đào tạo, y tế, pháp luật”;
- CMCN 4.0 với sự xuất hiện, áp dụng phổ biến siêu tự động hóa và siêu kết nối sẽ nâng cao năng suất những công việc hiện tại hoặc tạo ra nhu cầu việc làm mới; sự ra đời của robot có khả năng di chuyển và tương tác, sẽ giúp cho năng suất nhảy vọt. Theo dự báo của Diễn đàn kinh tế thế giới (VEF) máy móc sẽ đảm nhận 42% công việc tại các công sở vào năm 2022 (hiện nay là khoảng 29%) và theo Dự báo của Trường Đại học Universitat Bremen khoảng trên 60% lao động làm công ăn lương ở Indonesia, Philippin, Thailan và Việt Nam trong các nghề điện và cơ khí có nguy cơ mất việc do tự động hóa;
- CMCN 4.0 làm phát sinh thị trường lao động ngày càng tách biệt giữa hai lĩnh vực “kỹ năng thấp/thu nhập thấp” và “kỹ năng cao/thu nhập cao”. Những ngành nghề sử dụng nhiều lao động rẻ, kỹ năng thấp... sẽ mất lợi thế cạnh tranh, hậu quả là một phần lực lượng lao động kỹ năng thấp có thể bị thải hồi. CMCN 4.0 cũng có thể tác động đối với lực lượng lao động, tạo ra sự bất công lớn hơn, đặc biệt là gây ra nguy cơ phá vỡ thị trường lao động. Tình hình sản xuất hiện nay cho thấy rất nhiều ngành nghề sẽ mất việc làm vào tay Robot. Người lao động thiếu kỹ năng trong nhóm này sẽ bị mất việc đầu tiên, do vậy cần đào tạo nghề nghiệp cho họ để đương đầu với thách thức đó.
- Vviệc làm, nhóm lao động chịu tác động mạnh nhất là lực lượng lao động phổ thông và có kỹ năng trung bình rất dễ bị thay thế bởi quá trình tự động hóa và người máy. Đổi mới công nghệ thường dẫn đến năng suất cao hơn nhưng cũng sẽ tạo ra một áp lực lớn về tình trạng thất nghiệp và dịch chuyển của nguồn nhân lực. Khi tự động hóa thay thế con người trong nền kinh tế, người lao động sẽ bị dư thừa và điều đó làm trầm trọng hơn khoảng cách giữa lợi nhuận so với đồng vốn và lợi nhuận so với sức lao động. Khi đổi mới công nghệ thường dẫn đến năng suất cao sẽ tạo ra một áp lực lớn về tình trạng thất nghiệp và dịch chuyển của nguồn nhân lực.
- Công việc sẽ có sự thay đổi lớn về vị trí, chất lượng và cách thức, ví dụ như việc làm toàn thời gian và dài hạn sẽ giảm, số lao động bán thời gian, làm việc tự do hoặc theo các hợp đồng ngắn hạn sẽ tăng. Theo VEF Khoảng gần 50% doanh nghiệp dự đoán số lao động toàn thời gian của họ sẽ giảm trong vài năm tới. Tự động hóa sẽ phổ biến ở nhiều ngành, nhiều khâu của quá trình sản xuất, đòi hỏi lao động có kỹ năng mới và phù hợp

2.1. Tác động của cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ 4 đến giáo dục nghề nghiệp

- Quy mô và tốc độ của sự đổi mới công nghệ xét trên cả hai phương diện: sự phát triển và tính phổ biến diễn ra nhanh hơn bao giờ hết. Bên cạnh tốc độ và quy mô CMCN 4.0 còn tích hợp rất nhiều lĩnh vực khác nhau (ví dụ công nghệ chế tạo số có thể tương tác với thế giới sinh học; kỹ thuật vật liệu liên quan đến tương tác giữa các vi sinh vật, cơ thể người...). Những đột phá khoa học và công nghệ mới dường như là vô hạn, diễn ra trên rất nhiều lĩnh vực và nhiều nơi khác nhau, đang phá vỡ hầu hết khuôn khổ mọi ngành công nghiệp ở mọi quốc gia. Tất cả phát minh công nghệ mới đều có đặc điểm chung: tận dụng sức mạnh của số hóa và công nghệ thông tin. Đòi hỏi GDNN phải thay đổi cơ cấu ngành nghề, nội dung chương trình đào tạo, phương pháp đào tạo và áp dụng công nghệ thông tin trong dạy và học.
- CMCN 4.0 làm xuất hiện những ngành, nghề mới, chương trình đào tạo có tính liên ngành, hướng tới đào tạo ngành rộng (không phải chỉ đào tạo chuyên sâu như trước đây) để người học có kiến thức nền tảng, từ đó hình thành kỹ năng sáng tạo và thích ứng với nhiều công việc khác nhau.
- Sự thay đổi nhanh chóng của công nghệ đòi hỏi nguồn nhân lực có năng lực thích ứng nhanh. Một thế hệ công dân toàn cầu đang hình thành để đáp ứng yêu cầu của CMCN 4.0, họ phải được trang bị và sử dụng thành thạo 2 công cụ: Công nghệ tin học và Ngoại ngữ. Cơ cấu trình độ, sự phân tầng chất lượng sẽ phá vỡ những cách thức đào tạo truyền thống, cứng nhắc, hình thành hệ thống trường lớp mở, áp dụng phương thức đào tạo linh hoạt với mục tiêu cao nhất là cung cấp nguồn nhân lực chất lượng cao và thích ứng với các chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp thay đổi. Cả bề rộng lẫn chiều sâu của CMCN 4.0 báo trước sự chuyển đổi toàn bộ hệ thống sản xuất, quản lý và quản trị của xã hội và theo đó là những thay đổi của GDNN.

2.2. Việc làm bền vững vừa là mục tiêu vừa là động lực phát triển giáo dục nghề nghiệp

- Theo đề xuất của Viện nghiên cứu WBI của Ngân hàng thế giới (World Bank-WB) thì: Một quốc gia muốn chuyển sang CMCN 4.0 phải có 4 trụ cột: 1) Lực lượng lao động có kỹ năng; 2) Sáng tạo và hiệu quả; 3) Cơ sở công nghệ thông tin hiện đại; 4) Thể chế chính sách phù hợp. Phát triển nguồn nhân lực có kỹ năng (trong đó trên 85% là lao động qua đào tạo do hệ thống GDNN đảm nhận) là sự đảm bảo chắc chắn nhất cho người lao động có việc làm và việc làm bền vững.
- Hội thảo tại Paris (năm 2007), các tổ chức quốc tế như ILO, UNESCO, GIZ, AFD... đều khẳng định: Phát triển đào tạo nghề phải được nhìn nhận trong chiến lược chung với việc làm. Bởi vì việc làm bền vững là mục tiêu, đồng thời là động lực để phát triển hệ thống GDNN mở và linh hoạt trong bối cảnh toàn cầu hóa và CMCN 4.0.
- CMCN 4.0 cùng với những thay đổi nhanh chóng và rộng khắp trong tất cả các lĩnh vực khoa học, công nghệ và đời sống xã hội đặt các nhà quản lý GDNN trước những thách thức về yêu cầu đổi mới tư duy, phát triển hệ thống GDNN, xây dựng tầm nhìn, mục tiêu, nội dung, chương trình phương thức tổ chức đào tạo chất lượng và hiệu quả, năng lực quản lý sự thích ứng với những thay đổi.
- CMCN 4.0 đòi hỏi hệ thống GDNN tập trung vào kỹ năng thực hiện trong môi trường kinh doanh, dịch vụ và cung cấp những sản phẩm qua đào tạo có năng lực thích ứng và sáng tạo để đáp ứng nhu cầu của thị trường lao động. Những kỹ năng nghề quyết định tính cạnh tranh của người lao động bao gồm:

+ Kỹ năng tư duy, phân tích và sáng tạo;

+ Kỹ năng tư duy phản biện và phân tích;

+ Kỹ năng thiết kế và lập trình;

+ Kỹ năng giải quyết các tình huống phức tạp;

+ Kỹ năng sáng kiến và đánh giá mang tính hệ thống;

+ Kỹ năng tự học; hợp tác và cảm xúc xã hội;

+ Kỹ năng sử dụng thiết bị công nghệ ảo và làm việc trong môi trường số;

+ Kỹ năng giao tiếp và ứng xử....

Những kỹ năng trên được trang bị cho người lao động thông qua hệ thống GDNN theo hướng mở, linh hoạt và liên thông là lợi thế cho người lao động có việc làm bền vững.

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

Hotline
Thăm dò ý kiến

Bạn thấy website này như thế nào?

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây