QUẢN LÝ GIÁO DỤC NGHỀ NGHIỆP MỞ

Thứ tư - 17/10/2018 15:54

QUẢN LÝ GIÁO DỤC NGHỀ NGHIỆP MỞ

TS. Hoàng Ngọc Vinh

Phó chủ tịch Hiệp hội GDNN&NCTXH Việt Nam

 

1. Bối cảnh giáo dục nghề nghiệp mở

Giáo dục nghề nghiệp (GDNN) mở có thể xem là khái niệm mới đối với hệ thống giáo dục đào tạo với bản chất là hệ thống phi rào chắn đối với việc học tập của con người. Tính mở được thể hiện bởi sự thẩm thấu của GDNN vào các hệ thống khác như giáo dục phổ thông, giáo dục đại học và thế giới việc làm. GDNN mở là làm thế nào để cho người học di chuyển từ hệ thống con này sang hệ thống con khác, từ học ở lĩnh vực nghề nghiệp này sang lĩnh vực nghề nghiệp khác không bị cản trở miễn đáp ứng được nhu cầu nâng cao kỹ năng của người lao động trong bối cảnh nhu cầu thị trường thay đổi, ngày càng khắt khe do sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật và những thay đổi khác đang diễn ra trong xã hội và thế giới việc làm. Như thế, GDNN mở diễn ra bên trong cả hệ thống giáo dục và cả bên ngoài nơi thế giới việc làm - các doanh nghiệp hay tổ chức sử dụng lao động.

Trong bối cảnh lao động ở nước ta còn một tỷ lệ rất lớn lao động chưa có trình độ chuyên môn kỹ thuật lên đến gần 80% và mỗi năm có đến trên 300.000 học sinh tốt nghiệp và bỏ học ở THCS không đi học ở các trường THPT mà bước vào thị trường lao động không có kỹ năng lao động đang là bài toán cần được giải quyết cả ở giáo dục chính quy, phi chính quy và không chính quy. Tuy nhiên, những ranh giới vật lý, hành chính, luật pháp cũng như niềm tin, nhận thức còn chưa mở thì việc hình thành một hệ thống GDNN mở vẫn còn là một điều thách thức với nước ta.

Nhà nước với vai trò là người thiết kế chính sách, cơ chế tạo nền tảng cho giáo dục phát triển trong đó có GDNN mở sẽ cần phải thay đổi cách tiếp cận quản lý mở hơn lấy mục tiêu chất lượng, hiệu quả GDNN và lấy lợi ích của người học làm trụ cột cho mọi chính sách GDNN.

2. Định hướng quản lý

Trong bối cảnh thay đổi rất nhanh chóng những đòi hỏi từ thị trường lao động, việc cung cấp cho người học kỹ năng, kiến thức ngày hôm nay nhưng sẽ mau chóng lạc hậu ở ngày mai. Vì thế, cách tiếp cận GDNN đã có những thay đổi rất căn bản từ đào tạo chuyên môn hóa sâu hẹp sang đào tạo đa kỹ năng. Việc đào tạo chuyên môn hẹp thì cơ hội việc làm ngay sau khi ra trường cao nhưng lại chịu rủi ro rất lớn trong quãng đời lao động dài lâu một khi thế giới việc làm thay đổi những kỹ năng mới ra đời những kỹ năng cũ sẽ không còn thích hợp phải loại bỏ và việc học kỹ năng mới có thể sẽ gặp những khó khăn và thách thức nếu thiếu đi những kiến thức nền tảng để bồi đắp kỹ năng lên trên nền đó.

Tổ chức Lao động quốc tế đã có tổng kết so sáng mô hình đào tạo truyền thống và mô hình đào tạo trong nền kinh tế mới với nhiều biến động (xem bảng sau):

Bảng.  Đặc điểm và sự khác biệt giữa mô hình đào tạo cũ và mới

MÔ HÌNH CŨ

MÔ HÌNH MỚI

Dạy nghề theo khả năng cung

Đào tạo theo nhu cầu

Dạy nghề nghề cho việc làm

Học nghề cho khả năng có việc làm

Đào tạo tại chức

Học suốt đời

Dạy nghề tập trung vào giáo viên

Tự học và tập trung vào người học

Giáo dục và đào tạo tách rời

Giáo dục và đào tạo phải tích hợp với nhau

Chuyên môn hóa sâu

Hướng đến đa kỹ năng

Công nhận kỹ năng, trình độ dựa theo thời kỳ đào tạo và thi tốt nghiệp

Công nhận dựa vào năng lực và quá trình học tập trước đó

Điểm vào, điểm ra cố định

Mềm dẻo, linh hoạt vào và ra khỏi hệ thống

Dạy nghề để làm công ăn lương

Dạy nghề để làm công và tự tạo việc làm

Hệ thống hành chính quan liêu

Hệ thống phân cấp đòi hỏi cả cơ sở đào tạo quốc gia mạnh và tự chủ

Tập trung nhiều vào chính quy

Cả chính quy, không chính quy và phi chính quy

Chính sách và cung ứng dạy nghề do Nhà nước chịu trách nhiệm

Chia sẻ trách nhiệm và theo thị trường

Quản trị chủ yếu do nhà nước

Cùng tham gia quản lý, thừa nhận xã hội hóa, đối thoại xã hội.

So sánh hai mô hình cũ và mới trên đây có thể thấy Việt Nam vẫn còn có những thành tố theo mô hình đào tạo cũ, đặt ra nhiều vấn đề phải giải quyết hiện nay.

Trong mô hình GDNN, chức năng căn bản của Chính phủ tập trung vào một số nội dung sau để dỡ bỏ mọi rào cản cho GDNN mở phát triển:

Thiết lập nền tảng đảm bảo duy trì một chính sách và hệ thống GDNN thống nhất, đồng bộ, chất lượng, hiệu quả, đồng thời điều chỉnh hệ thống thông qua một khung luật pháp và các quy phạm pháp luật khác;

Huy động đầu tư vào GDNN và có cơ chế khuyến khích đào tạo theo nhu cầu, tạo điều kiện để người học được học suốt đời;

Bảo vệ quyền lợi cộng đồng (đặc biệt những đối tượng yếu thế, thiệt thòi trong xã hội...) trong GDNN và đảm bảo cơ hội bình đẳng trong học nghề.

Việc tập trung vào những chức năng căn bản nói trên là cách làm tách quản lý nhà nước ra khỏi quản trị điều hành nhà trường, nâng cao chất lượng, hiệu quả đào tạo nhân lực.

3. Nội hàm quản lý giáo dục nghề nghiệp mở

3.1. Nhà nước thiết kế chính sách và cơ chế để giáo dục nghề nghiệp mở phát triển

Trong việc thiết kế chính sách và các quy định luật pháp để vận hành hệ thống GD-ĐT nói chung và GDNN mở nói riêng có hầu hết các điểm chung. Tuy nhiên, cũng có những điểm khác biệt cần nhấn mạnh trong quá trình thiết kế chính sách.

Việt Nam đã có Đề án được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt về Xây dựng xã hội học tập có thể xem là chính sách quan trọng để có định hướng phát triển GDNN mở trong xã hội và nêu rõ trách nhiệm các Bộ ngành, địa phương để thực hiện Đề án. Vấn đề là thể chế hóa chính sách này bằng các văn bản quy phạm pháp luật xem ra chưa được quan tâm đúng mức trên các bình diện hình thành cơ chế tài chính, đầu tư nguồn lực phát triển xã hội học tập. Việc đào tạo chính quy luôn được xem trọng hơn đối với đào tạo kỹ năng ngắn hạn tại các doanh nghiệp. Việc hình thành cơ chế liên thông do Thủ tướng ký quyết định nhưng tính khả thi và tham chiếu đến tính “mở” cho GDNN còn hạn chế.

Vì thế, rất cần hoàn thiện các văn bản quy phạm pháp luật từ Luật Giáo dục, Luật Giáo dục đại học, Luật Giáo dục nghề nghiệp cũng như các luật khác liên quan đến việc tài chính, đầu tư huy động nguòn lực cho GDNN mở. Những vấn đề hình thành các qu đào tạo tại doanh nghiệp, đầu tư cho truyền thông đại chúng với các chương trình đào tạo kỹ năng, xây dựng hạ tầng công nghệ cho giáo dục mở, đào tạo, bồi dưỡng giáo viên trong GDNN mở, hình thành các trung tâm đánh giá và công nhận kỹ năng cho người lao động thường xuyên, liên tục một khi người lao động có nhu cầu nâng cao trình độ, chuyển đổi nghề nghiệp hoặc môi trường làm việc v.v...

Vài trò nhà nước hết sức quan trong trong việc thúc đẩy chất lượng GDNN mở và cải thiện lòng tin của xã hội vào “sản phẩm” mà GDNN mở tạo ra. Ở đây, nhà nước cần ban hành các tiêu chuẩn khung về học nghề để căn cứ vào đó đánh giá và công nhận chất lượng phù hợp với Khung trình độ quốc gia. Tuy nhiên, các tiêu chuẩn này cũng cần phải đáp ứng hai yêu cầu đồng thời là vừa đáp ứng nhu cầu hiện thời những cũng lại phải đáp ứng nhu cầu tương lai trong khoảng thời gian nào đó để tránh tiêu chuẩn mau chóng lạc hậu. Nói cách khác, tiêu chuẩn cần đạt trong một cái khung (framework) và rất linh hoạt.

Thúc đẩy chính sách cải cách hành chính có thể xem là đòn bẩy quan trọng cho GDNN mở phát triển. Cắt hầu hết các thủ tục xin cho và tuyên bố một chính sách phân bổ nguồn lực minh bạch sẽ giúp cho GDNN nói chung và thúc đẩy tính mở của GDNN nói riêng. Chỉ tính việc xin - cho trong đăng ký mở ngành ở cấp địa phương và cấp Trung ương sẽ làm mất đi một lượng thời gian, công sức, biên chế và chi phí cơ hội rất lớn. Đặc điểm của GDNN mở là “just in time” - cần là có ngay đáp ứng sớm nhất nhu cầu kỹ năng, nhưng do thủ tục hành chính đi lại sẽ rất mất thời gian và cơ hội thị trường sẽ mất đi và đôi khi làm giảm động lực tự chủ của cơ sở GDNN.

3.2. Huy động và sử dụng nguồn lực xã hội hiệu quả để phát triển giáo dục nghề nghiệp

Nguồn ngân sách là một có số giới hạn, trong khi nhu cầu học tập gia tăng kèm theo yêu cầu nâng cao chất lượng. Vì thế, nếu không có sự huy động nguồn lực cho GDNN thì việc hình thành GDNN mở chỉ tồn tại trên lí thuyết. Vai trò của nhà nước là thiết kế cơ chế huy động nguồn lực như việc giảm thuế đầu vào cho doanh nghiệp nếu đầu tư vào đào tạo kỹ năng, xây dựng các qu đào tạo (trích theo tỷ lệ % nào đó, nếu doanh nghiệp không dùng đến thì sẽ sung vào qu đào tạo kỹ năng quốc gia). Một nguồn lực xã hội rất to lớn đó là nguồn học phí đóng góp từ người học nhưng trong thiết kế chính sách thường người ta hay hướng sự chú ý đến đóng góp của doanh nghiệp. Muốn thu hút được nguồn tài chính rất lớn từ người học đòi hỏi cơ sở GDNN phải thiết kế chương trình mang tính hành dụng cao tập trung vào phát triển kỹ năng, hấp dẫn mới thu hút được người học và các doanh nghiệp hài lòng khi gửi người lao động đến học và sẵn sàng chi trả học phí cũng như hợp tác đào tạo. Hạn chế lớn nhất hiện nay ở nhiều cơ sở GDNN là vẫn mang tính bị động, thiếu năng lực thiết kế và tổ chức các khóa đào tạo kỹ năng trong sự phối hợp với các doanh nghiệp.

Huy động nguồn lực xã hội cho phát triển là một mặt nhưng khai thác sử dụng nguồn lực hiệu quả là mặt kia của vấn đề. Ngày nay, tài nguyên cho GDNN mở khá nhiều ở cả trên Internet và lưu trữ ở các trường nhưng hợp tác khai thác một cách hiệu quả chưa được tính đến. Các cơ sở GDNN cần hình thành liên minh theo các mạng lưới để chia sẻ tài nguyên, kinh nghiệm phát triển các khóa đào tạo kỹ năng. Để sử dụng tài nguyên trên Internet đòi hỏi giáo viên và cán bộ quản lý phải có trình độ kỹ năng nào đó về công nghệ thông tin đặc biệt tiếng Anh. Nguồn lực khá nhiều chỉ việc khai thác sử dụng đã có thể mang lại những kết quả tích cực và to lớn cho cả các cán bộ làm chính sách và những người thực thi chính sách.

3.3. Hệ thống đảm bảo chất lượng và công nhận trình độ

Một hệ thống GDNN phi rào chắn chỉ có thể có được lòng tin của xã hội một khi chất lượng học nghề được đảm bảo. Việc công nhận trình độ phản ánh đúng giá trị của người lao động trong thị trường. Như vậy, không cần quan tâm nhiều đến người học học ở đâu, khi nào, với phương thức nào miễn đạt được các yêu cầu kiểm tra đánh giá chuẩn thì phải công nhận cho họ. Có như vậy mới có thể tạo ra động lực cho người học. Việc công nhận cũng rất cần linh hoạt không cứ đợi người học phải có đủ một trình độ theo Khung trình độ quốc gia Việt nam mà có thể đánh giá từng phần theo các đơn vị năng lực và công nhận đạt yêu cầu các năng lực đó theo tiêu chuẩn. Việc công nhận có thể thông qua việc cấp chứng chỉ, văn bằng và có thể thông qua sự tích lũy các tín chỉ đáp ứng các chuẩn đầu ra và chuẩn khối lượng học tập. Việc trao đổ tín chỉ, coi tín chi gắn với chuẩn đầu ra như là một loại tiền (currency) có thể xem là một trong các cơ chế thúc đẩy GDNN mở. Hệ thống sẽ rất linh hoạt và có sự trao đổi, kết nối giữa nhà trường phổ thông và các trường đại học với cơ sở GDNN. Vì thế, tín chỉ có được đúng giá trị một khi các điều kiện đảm bảo chất lượng cũng như quá trình thi kiểm tra đánh giá nghiêm túc.

3.4. Phát triển nguồn nhân lực cho giáo dục nghề nghiệp

Nguồn nhân lực cho GDNN bao gồm các giáo viên, các nhà quản lý và nhân việc phục vụ trong tổ chức bộ máy quản lý GDNN từ Trung ương đến địa phương và các trường. Đối với GDNN mở đào tạo đội ngũ giáo viên cần chuẩn bị những kỹ năng giáo dục cho người trưởng thành và kỹ năng giảng dạy cho những người học hết sức đa dạng về lứa tuổi, văn hóa và điều kiện kinh tế có phần phức tạp hơn so với giáo viên đào tạo những học sinh tốt nghiệp THPT. Bên cạnh đội ngũ giáo viên, cán bộ quản lí rất cần có một đội ngũ những người có thể là giáo viên làm công tác tư vấn, định hướng học tập cho người lao động. Như vậy, chương trình bồi dưỡng cán bộ quản lí, giáo viên trong GDNN cũng cần lưu ý bổ sung những kỹ năng này cho đội ngũ. GDNN mở luôn gắn với ICT do vậy đòi hỏi các giáo viên ở cơ sở GDNN hay trong các doanh nghiệp là các đào tạo viên (trainers) rất cần được trang bị các kỹ năng về ICT để vừa khai thác hiệu quả nguồn lực và vừa nâng cao chất lượng giảng dạy, học tập của người học.

3.5. Khuyến khích ứng dụng công nghệ và sản xuất học liệu trong giáo dục nghề nghiệp mở

Nhà nước cần đảm nhận vai trò khuyến khích ứng dụng công nghệ trong GDNN mở và tạo nền tảng về cơ sở hạ tầng công nghệ cho GDNN mở đi vào cuộc sống. Việc ứng dụng công nghệ phải phù hợp với mục tiêu, phương pháp, tổ chức thực hiện chương trình và yêu cầu của GDNN thường xuyên. Nhà nước có cơ chế hỗ trợ, khuyến khích, tạo cơ chế cạnh tranh huy động nguồn lực để phát triển công nghệ phục vụ cho GDNN. Bên cạnh đó, nhà nước khuyến khích, hỗ trợ phát triển nghiên cứu, đánh giá công nghệ áp dụng trong GDNN, xây dựng cơ chế tài chính huy động các trường đại học, các viện nghiên cứu và các doanh nghiẹp cung cấp công nghệ, học liệu cho GDNN qua hệ thống ebook.

Trong một tương lai xa hơn cần xây dựng cơ sở dữ liệu lớn về người học trong các chương trình GDNN có đăng ký. Ở đó ghi nhận về người học, kỹ năng, thời gian, tin chỉ, trình độ, dân tộc, giới tính để tạo nên hệ thống mở liên thông dữ liệu với các cơ sở giáo dục khác và với thế giới việc làm.

4. Kết luận

GDNN mở là một khái niệm tương đối mới ở Việt Nam xuất phát từ một hệ thống giáo dục truyền thống vốn khép kín với thế giới việc làm và với xã hội nói chung. Hệ thống này vốn có quá nhiều rào rản do trong quá trình phát triển ngày càng bộc lộ đã cản trở sự liên thông, hạn chế cơ hội học tập nghề nghiệp suốt đời của người lao động. Bên cạnh những rào cản vật lý còn có những rào cản rất lớn về tư duy, nhận thức, niềm tin, luật pháp và những thủ tục hành chính cùng với năng lực học tập của người học và khả năng cung ứng của hệ thống. Rỡ bỏ những rào cản trên không phải một sớm một chiều, đòi hỏi toàn hệ thống phải có cố gắng rất nhiều. Trong mọi nỗ lực ấy, công tác quản lý GDNN cần được đặc biệt chú trọng để vừa thúc đẩy và vừa khơi thông những rào cản quá trình xây dựng xã hội học tập.

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

Hotline
Thăm dò ý kiến

Bạn thấy website này như thế nào?

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây