TIẾP CẬN ĐÀO TẠO THEO MÔ HÌNH KOSEN MÔ HÌNH VỀ ĐÀO TẠO NGHỀ NGHIỆP MỞ Ở VIỆT NAM

Thứ tư - 17/10/2018 16:21

TIẾP CẬN ĐÀO TẠO THEO MÔ HÌNH KOSEN MÔ HÌNH VỀ ĐÀO TẠO NGHỀ NGHIỆP MỞ Ở VIỆT NAM

NGƯT. TS. Vũ Xuân Hùng

Vụ trưởng Vụ Đào tạo chính quy, Tổng cục GDNN
 

1. Quan niệm về giáo dục, giáo dục nghề nghiệp mở

Giáo dục mở là một thuật ngữ mô tả mô hình giáo dục được thiết kế để mở rộng sự tiếp cận việc học tập so với giáo dục chính quy thông thường, bằng nhiều biện pháp, trong đó đặc biệt nhấn mạnh sự phát triển nguồn tư liệu giáo dục trong mọi môi trường học tập.

Theo Opensource, giáo dục mở là một triết lý về cách mà con người dùng để đưa ra, chia sẻ và xây dựng tri thức [4]. Theo Từ điển Wikipedia, giáo dục mở là giáo dục không yêu cầu nhập học và thường được cung cấp trực tuyến. Giáo dục mở mở rộng tiếp cận với việc học tập và đào tạo theo truyền thống được cung cấp thông qua các hệ thống giáo dục chính thức [5].

Tóm lại, có nhiều quan điểm khác nhau về giáo dục mở nhưng về cơ bản các quan điểm đều hướng đến một tiếp cận chung cho rằng giáo dục mở là việc loại bỏ các rào cản để truy cập được tới các tài nguyên giáo dục, các tài nguyên phục vụ cho việc dạy, việc học và việc nghiên cứu, và rộng lớn hơn là để truy cập tới được tri thức của nhân loại. Bằng việc loại bỏ các rào cản truy cập tới tri thức đó, cơ hội được giáo dục sẽ là sẵn sàng cho tất cả những người học, bất kể họ là ai, bất kể tình trạng, hoàn cảnh của họ ra sao. Vì vậy, hệ thống giáo dục mở, từ quan điểm của thế giới nguồn mở, chính là hệ thống giáo dục không có các rào cản.

Với nội hàm như vậy, hệ thống giáo dục mở nói chung, giáo dục nghề nghiệp (GDNN) mở nói riêng có những đặc trưng sau:

- GDNN mở xét ở góc độ hành chính thể hiện ở cơ chế vận hành dân chủ và phân quyền. Nếu nhìn vào lịch sử GDNN của các nước có nền giáo dục tiên tiên sẽ thấy quá trình đổi mới GDNN đồng thời cũng là quá trình dân chủ hóa bộ máy hành chính GDNN. Quá trình đó là việc chuyển dần chức năng của các cơ quan này từ chỗ là cơ quan quản lý, giám sát sang chức năng hỗ trợ và tư vấn.

- GDNN mở có nghĩa là phải chấp nhận sư đa dạng trong nhận thức của người học khi họ đi trên hành trình tiếp cận năng lực nghề nghiệp, khai phóng tiềm năng, trí tuệ của người học. Để đảm bảo tính “mở” này cần phải phá bỏ những định kiến, thiên kiến được định hình trong thời gian dài coi nhà trường là những khuôn mẫu, coi sách giáo khoa, giáo trình là khoa học bất biến. Muốn có nghề thì chỉ có đến trường mới học được nghề; muốn học thì chỉ có sách, tài liệu chính thống

- GDNN mở thể hiện ở việc hệ thống pháp luật về GDNN quy định một hệ thống GDNN đa dạng, đa tầng trình độ; thể hiện sự phân luồng, liên thông dọc, ngang thuận lợi nhất cho người học.

2. Một số đặc điểm của mô hình đào tạo KOSEN - Nhật Bản

KOSEN (tiếng Nhật: 崙棫崅摍愱栧妛; tiếng Anh: National Institute of Technology) là hệ thống các trường đào tạo kỹ thuật tại Nhật Bản được thành lập năm 1961 nhằm đáp ứng nhu cầu nhân lực lớn từ ngành công nghiệp khi nền công nghiệp Nhật Bản đang ở mức phát triển vượt trội [2]. Dưới tiếp cận của triết lý giáo dục mở, mô hình KOSEN được coi như là một loại hình đào tạo nghề nghiệp mở cả ở hệ thống, ở cơ chế vận hành và sự tự do trong nhận thức của người học.

Chính sách đào tạo nghề của Nhật thể hiện rõ sự phân luồng sau trung học, đặc biệt, với mô hình đào tạo KOSEN hiện nay, cho phép học sinh vừa học văn hóa vừa học nghề và kết thúc quá trình học tập sở hữu tấm bằng có giá trị dễ dàng tìm kiếm việc làm. Mô hình này tiếp nhận học sinh sau khi tốt nghiệp trung học cơ sở (THCS) ở độ tuổi 15 và đào tạo học sinh trong 5 năm để cấp bằng cao đẳng. Tỷ lệ học văn hóa giảm dần theo thời gian và ngược lại tỷ lệ học kiến thức chuyên môn nghề nghiệp tăng dần theo thời gian (xem hình 1) [3].
h1

Hình 1. Tỷ lệ kiến thức văn hóa và kiến thức chuyên môn theo năm học

Mô hình KOSEN có tính mở cao trong hệ thống. Người học vào học trình độ cao đẳng từ sau tốt nghiệp THCS, hoặc sau khi tốt nghiệp trung học phổ thông (THPT). Hệ thống cho phép người học chuyển đổi sang hệ thống giáo dục đại học hoặc học lên để đáp ứng yêu cầu của người “kỹ sư thực hành” (xem hình 2) [3].

h22

Xã hội Nhật Bản vốn rất coi trọng việc học và giáo dục nhân cách con người với ý thức trách nhiệm và tinh thần kỷ luật cao. Tại Nhật, hiện có sự phân biệt những người được xem là “kĩ sư có kĩ năng thực hành và tính sáng tạo” và những kĩ sư thông thường. “Kĩ sư có kĩ năng thực hành và tính sáng tạo” là những người có thể nghĩ ra ý tưởng nhờ vào sự hiểu biết và kĩ năng của họ, là người có thể chịu trách nhiệm truyền đạt các thông tin cần thiết giữa nhà nghiên cứu và kĩ thuật viên ở nhà máy.

Với lý thuyết về giáo dục mở trong nhận thức của người học, KOSEN sử dụng xuyên suốt phương pháp đặt vấn đề (problem - based learning) trong quá trình dạy học, nhằm giúp học sinh phát huy tính tích cực, chủ động trong học tập, đồng thời, người học được rèn luyện các kỹ năng cần thiết như thói quen/kỹ năng đọc tài liệu, phương pháp tư duy khoa học, tranh luận khoa học, làm việc tập thể, sớm tiếp cận những vấn đề thực tiễn.

Việc phát triển kỹ năng học tập được thực qua 3 giai đoạn: - Giai đoạn học tập; - Giai đoạn trải nghiệm thực tế; - Giai đoạn thực hành (xem hình 3) [3]. Mỗi giai đoạn đều có mối quan hệ mất thiết, hỗ trợ người học phát triển năng lực nghề nghiệp tốt nhất theo nghĩa tự do khai phóng trí tuệ, phát huy sáng tạo.

 

h3

Hình 3. Các giai đoạn học tập trong KOSEN

 

Phương pháp này đòi hỏi giáo viên phải không ngừng học hỏi vươn lên để đáp ứng với yêu cầu giảng dạy. Trong mô hình KOSEN, hơn 80% giảng viên là những người có trình độ cao về chuyên môn. Bên cạnh đó, các trường KOSEN được đầu tư cơ sở vật chất, máy móc thiết bị phục vụ đào tạo rất hiện đại để các học sinh có thể thích nghi nhanh chóng với việc làm sau khi tốt nghiệp. Đồng thời, những năm cuối, học sinh được dành phần lớn thời gian để tiến hành các thí nghiệm và thực tập dưới sự hướng dẫn của giáo viên và chuyên gia nhằm phát huy tính sáng tạo của mỗi cá nhân. Tính hấp dẫn của các trường KOSEN không chỉ là chất lượng đào tạo cao mà còn có nhiều cơ hội cho sinh viên tự phát triển và thể hiện mình.

KOSEN đào tạo các kỹ sư có tính sáng tạo và thực tiễn để giải quyết các vấn đề xã hội trên toàn thế giới, tạo ra một sự đổi mới bằng sức mạnh của công nghệ và giải quyết các vấn đề như một “Bác sĩ xã hội”.

Tổng số KOSEN ở Nhật bản thời điểm hiện tại là 57 trường (51 trường cấp quốc gia, 3 trường công và 3 trường tư). Ước tính hiện có khoảng 300.000 sinh viên tốt nghiệp Kosen đang tích cực đóng góp cho cả ngành công nghiệp lẫn lĩnh vực học thuật như thiết kế, nghiên cứu, quản lý v.v...[2]. Hiện nay, KOSEN được công nhận rộng rãi trên toàn thế giới, không chỉ do họ đưa ra các chương trình đào tạo chất lượng cao mà còn do bằng cấp của KOSEN đáp ứng được nhu cầu của thị trường lao động, đặc biệt là các lĩnh vực sản xuất. Mô hình KOSEN đã và đang có đóng góp rất lớn cho đất nước Nhật Bản thịnh vượng như ngày nay với sự phát triển khoa học công nghệ hàng đầu thế giới.

3. Thực trang tiếp cân và ứng dung mô hình KOSEN tại Viêt Nam

Từ tháng 11/2013, dự án hỗ trợ đào tạo nhân lực ngành hoá chất công nghiệp nặng đã được bắt đầu, giữa JICA và Trường Đại học Công nghiệp Hồ Chí Minh (IUH) [1]. KOSEN Nhật bản đã cử sang Việt Nam một số chuyên gia, thường trú dài hạn. Từ năm 2016, KOSEN đã hỗ trợ mạnh mẽ các trường trực thuộc Bộ Công Thương (MOIT) gồm cả các trường đại học và cao đẳng công nghiệp như: Trường Cao đẳng Công thương Phúc Yên; Trường Cao đẳng Công thương Huế; Trường Cao đẳng Kỹ thuật Cao Thắng; Trường Đại học Điện lực; Trường Cao đẳng Công nghiệp Thực phẩm; Trường Đại học Sao Đỏ.

Về áp dụng mô hình KOSEN, các trường trong Dự án đã tiến hành cải tiến chương trình học, chương trình giảng dạy theo mô hình KOSEN. Dự án được thực hiện 4 năm với nội dung tập trung vào việc giáo dục an toàn, cải tiến mở rộng mô hình 5S, đào tạo sự sáng tạo, nghiên cứu tốt nghiệp, giáo dục thiết kế kỹ thuật, đào tạo tích cực, học tập dựa trên giải quyết vấn đề PBL.v.v... Ngoài ra, các trường cũng tự chủ động thực hiện chương trình, kết nối với các doanh nghiệp (kể cả doanh nghiệp trong nước và các doanh nghiệp Nhật Bản) phục vụ cho mục đích làm việc cho sinh viên sau tốt nghiệp.

Từ năm 2018, KOSEN đã có một số hoạt động tại Việt Nam như chuẩn bị thành lập Văn phòng Đại diện tại Việt Nam, Thành lập Hội cựu sinh viên KOSEN tại Việt Nam và chuẩn bị phát triển, mở rộng mô hình thí điểm KOSEN tại nhiều trường cao đẳng, ngoài các trường đã thí điểm trước đây của Bộ Công thương.

4. Đề xuất một số giải pháp áp dung trong thời gian tới

Mô hình KOSEN là một mô hình đào tạo mở, hướng tới khai phóng tiềm năng của con người, nghĩa là làm cho người học sau đào tạo trở thành những người có giá trị nhất trong xã hội. Đây là một mô hình có thể áp dụng tốt ở Việt Nam vừa đẩy mạnh phân luồng học sinh sau THCS vào học GDNN, vừa đào tạo được nguồn nhân lực chất lượng cao cho sự phát triển kinh tế đất nước.. Do vậy, để có thể áp dụng mô hình này, chúng tôi đề xuất một số giải pháp sau:

1) Nghiên cứu, xây dựng mô hình đào tạo (mô hình 9 +) theo điều kiện hoàn cảnh của Việt Nam. Có thể mô hình này sẽ được chia làm 3 giai đoạn:

Giai đoạn 1: 2 năm (9+2): Đào tạo chính là phần khối lượng kiến thức văn hóa THPT theo yêu cầu của chương trình và một nội dung nhỏ tri thức nghề nghiệp tương đương trình độ sơ cấp

Giai đoạn 2: 1 năm (9+3): Đào tạo chính là phần trí thức nghề nghiệp tương đương trình độ trung cấp và một phần văn hóa THPT

Giai đoạn 3: 2 năm (9+5): Đào tạo chính là phần tri thức nghề nghiệp tương đương trình độ cao đẳng với các dự án, đồ án tốt nghiệp và một phần nhỏ kiến thức văn hóa THPT hỗ trợ cho việc hoàn thành các đồ án;

2) Đề nghị các cấp quản lý có thẩm quyền cho phép đào tạo thí điểm theo mô hình nêu trên ở một số cơ sở GDNN. Người học sẽ không phải học văn hóa THPT riêng rẽ mà học theo chuẩn đầu ra theo yêu cầu của chương trình;

3) Lựa chọn trường, chuyên ngành/nghề tham gia thực hiện thí điểm trong đó sẽ phải xây dựng tiêu chí lựa chọn trường; khảo sát, lựa chọn trường; xây dựng tiêu chí lựa chọn chuyên ngành/nghề thí điểm; khảo sát, lựa chọn chuyên ngành/nghề;

4) Xây dựng chuẩn đầu ra cho các chuyên ngành/nghề thí điểm trong đó cần phải thực hiện phân tích nghề, phân tích công việc của nghề; xác định kiến thức văn hóa, chuyên môn của chuyên ngành/nghề; biên soạn chuẩn đầu ra và thẩm định, đánh giá;

5) Xây dựng chương trình đào tạo (theo hướng tích hợp nội dung văn hóa trung học phổ thông và chuyên môn nghề nghiệp): - Xác định thời gian đào tạo; -Xác định khối lượng kiến thức văn hóa THPT cần thiết theo chuẩn đầu ra của nghề; - Biên soạn chương trình đào tạo; - Thẩm định, đánh giá chương trình; - Biên soạn tài liệu; -Thẩm định, đánh giá tài liệu;

6) Chuẩn bị đào tạo (mô hình 9+5): -Xây dựng kế hoạch (xây dựng tiến độ đào tạo chung cho cả khóa học; kế hoạch đào tạo cho từng giai đoạn, từng học kỳ); - Chuẩn bị điều kiện về giáo viên (giáo viên dạy văn hóa; giáo viên vừa đào tạo kiến thức chuyên môn, vừa đào tạo được kiến thức văn hóa THPT); - Chuẩn bị các điều kiện khác (cơ sở vật chất, thiết bị đào tạo....).

7) Tổ chức đào tạo thí điểm: - Thành lập Ban Chỉ đạo đào tạo thí điểm có nhiệm vụ chỉ đạo, tổ chức, giám sát việc thực hiện; - Tổ chức tuyển sinh theo 2 hình thức xét tuyển và thi tuyển (chủ yếu sẽ là thi tuyển); có thư giới thiệu và bảo đảm của Hiệu trưởng các trường THCS; - Tổ chức đào tạo theo kế hoạch;

8) Kiểm tra, giám sát quá trình đào tạo thí điểm;

9) Tổng kết, đánh giá chương trình thí điểm, rút ra những bài học kinh nghiệm trong tổ chức thực hiện, trên cơ sở đó, đề xuất thể chế hóa mô hình này trong các văn bản luật (Luật Giáo dục, Luật Giáo dục nghề nghiệp./.

 

Tài liệu tham khảo

[1] Đại học Công nghiệp TP. Hồ Chí Minh (2017). Báo cáo Dự án đào tạo nhân lực công nghiệp nặng, công nghiệp hóa chất;

[2] Hiroshi OMURA (2017). Global Initiative of KOSEN Education Model, National Institute of Technology (KOSEN) Japan

[3] National Insitute of Technology (2018), KOSEN, http://www.kosen-k.go.jp/english/ info-idx.html;

[4] Website: https://opensource.com/resources/what-open-education, truy cập ngày 25/8/2018;

[5] Website: https://en.wikipedia.org/wiki/Open_education, truy cập ngày 15/7/2018.

 

 

 

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Hotline
Thăm dò ý kiến

Bạn thấy website này như thế nào?

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây