XÃ HỘI HÓA GIÁO DỤC NGHỂ NGHIỆP

Thứ ba - 09/10/2018 10:08
XÃ HỘI HÓA GIÁO DỤC NGHỂ NGHIỆP

PGS.TS. Trần Thị Tâm Đan

Nguyên Chủ nhiệm y ban Văn hóa Giáo dục Thanh niên,

Thiếu niên và Nhi đồng - Quốc hội

1. Xã hội hóa giáo dục là tất yếu của phát triển giáo dục
1.1. Xã hội hóa giáo dục

     - Xã hội hóa (XHH) xuất hiện trên thế giới từ thế kỷ XX và được áp dụng trong các chính sách xã hội. Ở Việt Nam, XHH được đề cập trong các Nghị quyết của Đảng: Nghị quyết Trung ương 4 khóa VII, Văn kiện Đại hội Đảng cộng sản Việt Nam khóa VII, IX, XI trên tinh thần các chính sách xã hội được giải quyết theo XHH. Khuyến khích thành lập các tổ chức cung ứng dịch vụ công thuộc thành phần ngoài nhà nước. Hoạt động XHH phải tuân thủ các tiêu chuẩn, quy chuẩn, các quyết định của pháp luật và chịu sự kiển tra, giám sát của các cơ quan nhà nước và nhân dân [1];
     - XHH là quá trình chuyển giao những nội dung, nhiệm vụ thuộc chính sách xã hội mà nhà nước không nhất thiết phải thực hiện sang cho người dân và tổ chức ngoài nhà nước thực hiện trên cơ sở các quy định, quy chuẩn theo yêu cầu của nhà nước;
     - Xã hội hóa giáo dục (XHHGD) là quá trình chuyển giao những nội dung, nhiệm vụ thuộc lĩnh vực giáo dục mà nhà nước không nhất thiết phải làm, phải thực hiện cho người dân và các tổ chức ngoài nhà nước thực hiện trên cơ sở quy định, quy chuẩn theo yêu cầu của nhà nước nhằm tập hợp nguồn lực xã hội để cùng thực hiện mục tiêu nâng cao chất lượng giáo dục và xây dựng xã hội học tập [2].

     Xã hội học tập là giáo dục cho mọi người và mọi người làm giáo dục nhằm đảm bảo quyền học tập cho mọi người và mọi người có trách nhiệm chăm lo cho giáo dục.

Ở Việt Nam, XHHGD được quy định ở Nghị quyết số 90-CP ban hành ngày 21/8/1997. Trong đó đã xác định XHHGD là chính sách lâu dài, là phương châm thực hiện chính sách xã hội của Đảng và nhà nước về giáo dục, y tế và văn hóa.

     XHHGD ở Việt Nam đã được luật hóa tại Điều 11 của Luật Giáo dục: “Mọi tổ chức, gia đình và công dân đều có trách nhiệm chăm lo sự nghiệp giáo dục, xây dựng phong trào học tập và mi trường giáo dục lành mạnh, phối hợp với nhà trường thực hiện mục tiêu giáo dục. Nhà nước giữ vai trò chủ đạo trong phát triển sự nghiệp giáo dục, thực hiện đa dạng hóa những loại hình nhà trường và các hình thức giáo dục; khuyến khích, huy động và tạo điều kiện để tổ chức, cá nhân tham gia phát triên sự nghiệp giáo dục”.

     XHHGD là nhiệm vụ của nhà nước. Nhà nước có trách nhiệm lãnh đạo, chỉ đạo, huy động sự đóng góp của tổ chức, cá nhân trong toàn xã hội cùng với sự đầu tư tài chính của nhà nước để phát triển quy mô và đảm bảo chất lượng, hiệu quả giáo dục, đáp ứng nhu cầu học tập của mọi người với nhận thức học tập là quyền của mọi công dân.

XHH không phải là tư nhân hóa mà bản chất XHH là dịch vụ công; vì vậy nhà nước phải giữ vai trò chủ đạo ưong thực hiện XHHGD.

     XHHGD được nhiều quốc gia thực hiện, là xu thế tất yếu của phát triển sự nghiệp giáo dục, bởi lẽ đáp ứng nhu cầu học tập của mọi người trong xã hội, đòi hỏi một nguồn tài chính rất lớn mà ngân sách không thể đáp ứng đầy đủ. Do đó phải có sự đóng góp của người học, của tổ chức, cá nhân trong toàn xã hội cho sự phát triển của giáo dục.

1.2. Nội dung chính của xã hội hóa giáo dục
1.2.1. Huy động nguồn lực của tổ chức, cá nhân trong xã hội để thực hiện nhiệm vụ của giáo dục;
1.2.2. Nhà nước chuyển giao những nội dung và nhiệm vụ giáo dục mà nhà nước không nhất thiết phải thực hiện sang cho tổ chức, cá nhân ngoài nhà nước thực hiện theo quy chuẩn, quy định và yêu cầu của nhà nước.
     Trong xã hội hiện đại, với sự phát triền mạnh mẽ về khoa học và công nghệ, người lao động phải học tập suốt đời đề nâng cao trình độ chuyên mông nghiệp vụ, kỹ năng nghề nghiệp đòi hỏi phải mở rộng chủ thể tham gia làm giáo dục. Nhà nước tạo điều kiện để tổ chức, cá nhân tham gia thành lập các trường ngoài công lập, kể cả trường có vốn đầu tư nước ngoài, tạo cơ hội cho người dân thực hiện được nhu cầu hoàn thiện mình và nâng cao chất lượng cuộc sống, thực hiện bình đẳng trong giáo dục.
     Người dân tham gia thực hiện XHHGD có được những thông tin về giáo dục, một mặt đóng góp tiền của cho giáo dục, tham gia ý kiến về chương trình, nội dung phương pháp giáo dục, đồng thời có cơ hội lựa chọn được những chương trình giáo dục phù hợp với nguyện vọng của mình, tạo ra dân chủ trong giáo dục. Mặt khác quyền tự chủ và trách nhiệm giải trình của nhà trường giúp cho người dân có điều kiện giám sát, góp ý kiến cho công tác quản lý và đảm bảo chất lượng giáo dục.
     
Nguồn lực của xã hội đầu tư cho giáo dục góp phần mở rộng mạng lưới trường học trong cả nước cùng với sự đa dạng hóa các loại hình nhà trường và hình thức học tập tạo cho mọi người được đi học phù hợp với nhu cầu của mình. XHHGD đã tạo ra sự công bằng xã hội về cơ hội học tập của mọi người.
     
XHHGD đã huy động được tiềm năng to lớn của xã hội đề phát triển sự nghiệp giáo dục, thích ứng với cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và yêu cầu hội nhập quốc tế của Việt Nam.
2. Nội dung xã hội hóa giáo dục
2.1. Xây dựng cộng đồng trách nhiệm các tầng lớp dân cư hướng tới xác lập môi trường kinh tế, xã hội lành mạnh tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động giáo dục. Ở các địa phương là cộng đồng trách nhiệm của Đảng bộ, Hội đồng nhân dân, ủy ban nhân dân, các tổ chức đoàn thể, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, doanh nghiệp đóng tại địa phương và cá nhân tham gia thực hiện xã hội hóa giáo dục. Xã hội hóa giáo dục là lợi ích của cộng đồng.
2.2. Huy động các nguồn lực của xã hội, tạo điều kiện thuận lời để tổ chức xã hội, tổ chức kinh tế doanh nghiệp, hiệp hội, tổ chức từ thiện, quỹ học bống đóng góp tiền của và tham gia phát triển giáo dục, đảm bảo chất lượng giáo dục.
2.3. Nhà trường phối hợp với gia đình và xã hội chăm lo cho việc học tập của học sinh, sinh viên thực hiện mục tiêu giáo dục; thực hiện đổi mới chương trình, phương pháp giáo dục, đảm bảo các điều kiện nâng cao chất lượng giáo dục, xây dựng mội trường sư phạm, huy động chính quyền địa phương và cộng đồng dân cư tham gia phát triền giáo dục.
2.4. Đa dạng hóa các loại hình trường và các hình thức học tập
2.4.1. Thực hiện xã hội hóa giáo dục
     
Việt Nam đã hình thành 4 loại trường: công lập, dân lập, tư thục, trường có vốn đầu tư nước ngoài. Các trường ngoài công lập được thành lập chủ yếu do các tổ chức, cá nhân ngoài nhà nước và nước ngoài thực hiện đã dẫn đến mở rộng chủ thể làm giáo dục. Việc chuyển giao các trường công lập mà nhà nước không nhất thiết phải nắm giữ cho tổ chức, cá nhân ngoài nhà nước thực hiện hầu như không giải quyết được. Năm 2014-2015 trường công lập là 94% trên tống số trường học trong cả nước bao gồm: giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông, giáo dục nghề nghiệp và giáo dục đại học, số trường ngoài công lập là 6%. Điều này cũng giải thích được tại sao nhà nước đã dành tới 20% ngân sách cho giáo dục mà giáo dục Việt Nam vẫn ở trong tình trạng không cân đối giữa nhu cầu học tập của nhân dân và nguồn lực đảm bảo và nói chung chất lượng giáo dục thấp và không đồng đều.
2.4.2. Đa dạng hóa các hình thức học tập.
     
Phát triển giáo dục thường xuyên (GDTX) để thực hiện đa dạng hoá các hình thức học tập. GDTX là một chính sách quốc gia.
     
Theo UNESCO, GDTX là tất cả các cơ hội học tập mà mọi người mong muốn cần có sau xóa mù chữ và tiểu học.
     
Ở Việt Nam, GDTX là hệ thống các loại hình giáo dục không chính quy, thuộc hệ thống giáo dục tiếp tục. GDTX không bao gồm các loại hình giáo dục chính quy trong hệ thống giáo dục ban đầu.
     
GDTX có 4 chức năng chính:
     - Chức năng thay thế giúp người sau xóa mù chữ chưa đi học bao giờ cũng có cơ hội học tập;
     - Chức năng nối tiếp tạo điều kiện cho người học chính quy bỏ học vẫn có thể tiếp tục chương trình học của mình;
     - Chức năng bổ sung giúp người đang đi làm cần phải bổ sung kiến thức, kỹ năng của mình nhằm đáp ứng và thích nghi với sự phát triển của xã hội;
     - Chức năng hoàn thiện đối với những người cần cập nhật những tri thức, kĩ năng mà cuộc sống đòi hỏi để nâng cao chất lượng cuộc sống.
     
Tất cả những nhu cầu này đều được giải quyết thông qua GDTX. GDTX tạo ra cơ hội học tập cho mọi người, không phân biệt lứa tuổi trong suốt cuộc đời con người, không phân biệt về hình thức tổ chức, mục đích học, chương trình học. GDTX là chính sách xã hội của một xã hội hiện đại và học tập là quyền của con người có tầm quan trọng như giáo dục chính quy.
     
Việc học ở hệ thống giáo dục chính quy hay ở hệ thống GDTX thì chất lượng giáo dục đều được quan tâm như nhau. Tuy nhiên, trong tổ chức thực hiện chương trình, phương pháp giáo dục, thời gian học tập, chú ý yêu cầu thực hành, cần có sự mềm dẻo và linh hoạt hơn so với giáo dục chính quy.
2.4.3. Giáo dục người lớn
     
Giáo dục người lớn dành cho người lao động trong các lĩnh vực KT-XH, cơ quan nhà nước nhằm phát huy những tiềm năng sẵn có của con người đạt đến mức cao nhất có thể để người lao động thích ứng được với sự thay đổi nhanh chóng của xã hội hiện đại. Người lao động phải học suốt đời để không ngừng nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, kỹ năng nghề nghiệp hoặc phải thay đổi nghề do sự phát triển khoa học công nghệ.
     
Giáo dục người lớn phải giải quyết thông qua GDTX, đào tạo liên tục và học tập suốt đời.
     
Xây dựng xã hội học tập thúc đẩy hình thành phong trào học tập của mọi người trong các cộng đồng dân cư. Tổ chức tốt giáo dục người lớn tạo điều kiện cho người lớn học tập suốt đời là điều kiện tiên quyết để đạt mục tiêu nhân lực chất lượng cao, có khả năng tiếp thu thành quả của các cuộc cách mạng khoa học công nghệ mang lại sự phát triển bền vững cho kinh tế và văn minh của xã hội.
3. Nhiệm vụ xã hội hóa giáo dục nghề nghiệp
3.1. Giáo dục nghề nghiệp (GDNN) có nhiệm vụ đào tạo nguồn nhân lực ba trình độ cao đẳng, trung cấp, sơ cấp đáp ứng nhu cầu nhân lực phát triển KT-XH đồng thời có nhiệm vụ đáp ứng nhu cầu học tập và học tập suốt đời của mọi công dân với quan điểm học tập là quyền của con người nhất là trong xã hội hiện đại.
     
Yêu cầu đảm bảo chất lượng với một quy mô hợp lý của GDNN đòi hỏi kinh phí đào tạo không nhỏ. Mặc dù nhà nước giữ vai trò chủ đạo trong phát triển giáo dục nhưng chỉ dựa vào ngân sách nhà nước thì cũng không đủ nguồn lực cho GDNN thực hiện được nhiệm vụ của mình. Xã XHHGD là yêu cầu tất yếu của phát triển giáo dục. Vì vậy, GDNN cũng phải đi theo con đường đó nếu muốn đạt được chất lượng cao hơn và quy mô phát triển phù hợp và tạo điều kiện cho mọi người có mong mốn học nghề được đáp ứng. Xét về thực trạng GDNN hiện nay, tỷ lệ trường ngoài công lập còn khá ít so với trường công lập, chất lượng đào tạo nói chung còn thấp, đa dạng hóa các loại hình trường và hình thức học tập còn hạn chế. Vì vậy, GDNN hiện nay phải giải quyết cả hai mục tiêu là nâng cao chất lượng và mở rộng quy mô đào tạo không chính quy.
     
Nghị quyết Hội nghị Trung ương 8 khóa XI về đổi mới căn bản toàn diện giáo dục và đào tạo đã chỉ rõ: “Xây dựng nền giáo dục mở, thực học, thực nghiệp, dạy tốt, học tốt, quản lý tốt; có cơ cấu và phương thức giáo dục hợp lý, gắn với xây dựng xã hội học tập; bảo đảm các điều kiện nâng cao chất lượng; chuẩn hóa, hiện đạo hóa, dân chủ hóa, xã hội hóa và hội nhập quốc tế hệ thống giáo dục và đào tạo”. Như vậy, XHHGD  là một chính sách lớn trong giáo dục - đào tạo xuất phát từ nhu cầu phát triển đất nước trong thời CNH, HĐH và hội nhập quốc tế hiện nay cũng như sau này.
3.2. Mục tiêu xã hội hóa giáo dục nghề nghiệp
     
Mục tiêu thực hiện XHH GDNN là huy động các nguồn lực bao gồm nhân lực, vật lực và các nguồn tài chính để đầu tư cho phát triển GDNN, đảm bảo chất lượng và quy mô phát triển giáo dục hợp lý đáp ứng nhu cầu nhân lực nghề nghiệp phục vụ cho phát triển KT-XH của đất nước và tạo cơ hội cho mọi người được học nghề theo mong muốn của mình.
3.3. Xây dựng cộng đồng trách nhiệm
     
Xây dựng cộng đồng trách nhiệm bao gồm: Đảng bộ, Hội đồng nhân dân, ủy ban nhân dân, các tổ chức đoàn thể, tổ chức xã hội, tổ chức kinh tế, doanh nghiệp đóng tại địa phương và cá nhân hướng tới xây dựng môi trường KT-XH lành mạnh tạo thuận lợi cho hoạt động GDNN, đồng thời huy động cộng đồng dân cư tham gia xây dựng xã hội học tập tạo cơ hội học tập theo mong muốn của mình đồng thời có điều kiện tham gia, phát triển sự nghiệp giáo dục.
3.4. 
Đa dạng hóa các loại hình trường và các hình thức học
3.4.1.Thực hiện chuyển giao những nội dung, nhiệm vụ GDNN mà nhà nước không nhất thiết phải thực hiện sang cho các tổ chức, cá nhân ngoài nhà nước thực hiện trên cơ sở đảm bảo cơ cấu giữa học sinh, sinh viên công lập và học sinh, sinh viên ngoài công lập.
     
Mở rộng các chủ thể tham gia thành lập các trường ngoài công lập (trường tư thục, trường dân lập và trường có vốn đầu tư của nước ngoài).
3.4.2. Đa dạng hóa các hình thức học tập. Đẩy mạnh GDTX để phát triển đa dạng các hình thức học tập và mở rộng quy mô GDNN nhằm tạo cơ hội học tập cho mọi người không phân biệt lứa tuổi, hình thức học tập, mục đích học, chương trình học, không gian học tập.
3.5. Giáo dục người lớn
     Giáo dục người lớn dành cho cán bộ, công chức, viên chức trong các cơ quan nhà nước và người lao động trong các lĩnh vực KT-XH. Vì vậy, cần có sự tham gia tích cực của các cơ quan nhà nước, các tồ chức kinh tế, tố chức xã hội, doanh nghiệp chủ động tổ chức và đầu tư cho người lao động học suốt đời để nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ, kỹ năng lao động tạo điều kiện cho người lao động nâng cao năng lực nghề nghiệp và thích ứng với sự thay đồi của cuộc sống xã hội.
     
Tổng cục GDNN cần phối họp với các cơ quan nhà nước, các doanh nghiệp thực hiện giáo dục người lớn là yếu tố quan trọng để có được nguồn nhân lực chất lượng cao cho phát triển KT-XH và có khả năng tiếp cận cuộc cách mạng công nghiệp và sự phát triển mạnh mẽ của khoa học công nghệ.
     
Trong tổ chức thực hiện giáo dục người lớn cần giải quyết trên ba bình diện: GDTX, Đào tạo liên tục, Học tập suốt đời.
3.6. Tăng cường hợp tác quốc tế trong thực hiện xã hội hóa giáo dục nghề nghiệp
     
Tổ chức lao động quốc tế và doanh nghiệp đầu tư của nước ngoài rất quan tâm đến GDNN là một thuận lợi cho thực hiện XHH GDNN.
     
Hợp tác quốc tế không những huy động được nguồn lực đầu tư cho GDNN mà còn tiếp thu được những kinh nghiệm trong tổ chức các loại hình đào tạo, trong liên kết với doanh nghiệp; tiếp thu được những thành tựu của khoa học giáo dục; kinh nghiệm phát triển chương trình, phương pháp đào tạo hiện đại góp phần nâng cao chất lượng đào tạo và thực hiện đổi mới GDNN của Việt Nam.
3.7. Vai trò quản lý của nhà nước

     - Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội tăng cường công tác lãnh đạo, chỉ đạo đối với thực hiện nhiệm vụ XHH GDNN; có chủ trương, chính sách và cơ chế khuyến khích mọi tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước tham gia phát triển các cơ sở giáo dục ngoài công lập và mở rộng GDTX trên nguyên tắc tạo các điều kiện để chất lượng GDTX ngang bằng với chất lượng giáo dục công lập;
     - Huy động các trường công lập tham gia phát triển GDTX và giáo dục người lớn;
     - Hoàn thiện các văn bản pháp quy về XHH GDNN. Kiểm tra, thanh tra quá trình thực hiện XHH và kịp thời xử lý vi phạm; xây dựng phong trào xã hội học tập rộng khắp trong cả nước, ở các cộng đồng dân cư. Nâng cao nhận thức của xã hội về vai trò, vị trí quan trọng của XHH GDNN. XHH GDNN tạo điều kiện cho mọi người dân được học nghề và mọi người có trách nhiệm đóng góp cho sự phát triển GDNN, góp phần tích cực cho sự phát triển chung của sự nghiệp giáo dục Việt Nam.

------------------

[1] Đảng cộng sản Việt Nam (2013). Văn kiện hội nghị lần thứ 8 Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa XI. NXB Chính trị Quốc gia Hà Nội.

[2] Phạm Thị Thu Hương. Xã hội hóa giáo dục ở Việt Nam hiện nay. Một số vấn đề lý luận và thực tiễn. NXB Chính trị Quốc gia - Sự thật.

 

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

Hotline
Thăm dò ý kiến

Bạn thấy website này như thế nào?

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây