XÂY DỰNG HỆ THỐNG GIÁO DỤC NGHỀ NGHIỆP MỞ TRONG XÃ HỘI HỌC TẬP

Thứ năm - 11/10/2018 15:14

 

XÂY DỰNG HỆ THỐNG GIÁO DỤC NGHỀ NGHIỆP
MỞ TRONG XÃ HỘI HỌC TẬP

GS.TSKH. Phạm Tất Dong

Phó chủ tịch Hội Khuyến học Việt Nam

     “Chuyển dần mô hình giáo dục hiện nay sang mô hình giáo dục mở - mô hình xã hội học tập với hệ thống học tập suốt đời, đào tạo liên tục, liên thông giữa các ngành học, bậc học; xây dựng và phát triển hệ thong học tập cho mọi người và những hình thức học tập, thực hành lỉnh hoạt, đáp ứng nhu cầu học tập thường xuyên, học tập suốt đời; tạo nhiều khả năng, cơ hội khác nhau cho người học, bảo đảm sự công bằng xã hội trong giáo dục” (Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng CSVN - 2006)

1. Tính “mở” của xã hội học tập
1.1. Sản phẩm của giáo dục mở
     Sự khẳng định về tính “mở” của xã hội học tập trong Nghị quyết của Đảng được trích dẫn trên đây cho thấy, điều tất yếu trong phát triển giáo dục là cần phải đoạn tuyệt mô hình giáo dục khép kín hiện nay - mô hình không còn thích ứng với xu thế phát triển kinh tế thế giới trong thế kỷ XXI. Nn kinh tế công nghiệp đang dần được thay thế bởi nền kinh tế tri thức (Knowledge Economy) - nền kinh tế lấy việc sản xuất ra những tri thức mới như một hàng hóa chủ công để có được những giá trị gia tăng cao nhất. Những tri thức mới sẽ kết tinh trong những công nghệ mới, trong hệ thống kỹ thuật mới, trong những văn bằng sáng chế, phát minh... Chỉ có nền giáo dục mở với mục tiêu phát triển tận lực tiềm năng con người mới tạo ra những tri thức như vậy.
     Tri thức mới, và cũng chỉ có tri thức hiện đại, mới tạo ra những cuộc cách mạng công nghiệp liên tiếp trong vòng 4 thế kỷ qua, mà hiện nay, Industry 4.0 là đặc trưng của cuộc cách mạng công nghiệp đang phát huy tác động của nó tới nền sản xuất thế giới trong những thập niên đầu tiên của thế kỷ XXI. Kinh tế tri thức trong dòng chảy toàn cầu hóa (Globalization) đã tạo điều kiện xuất hiện cách mạng công nghiệp lần thứ 4, đến lượt mình, chính cuộc cách mạng này đã từ chối việc nhà trường cổ truyền đào tạo ra những con người lao động công nghiệp, mà đòi hỏi nhà trường hiện đại phải sản sinh ra những lao động tri thức (Knowledge worker).Với hiểu biết của mình, chúng tôi cho rng, mô hình lao động tri thức nói ở đây, chí ít cũng phải có những đặc trưng mong muốn (hay những năng lực cơ bản) như hình vẽ sau:

Nl1

Năng lực hội nhập quốc tế



1.2. Nguyên tắc xây dựng hệ thống giáo dục mở

     Với những yêu cầu có được những đặc trưng mong muốn ở người lao động tri thức, việc xây dựng xã hội học tập cần được xây dựng trên cơ sở xác định những nguyên tắc sau đây:

- Trước hết, phải tháo gỡ mọi rào cản đối với việc học tập của con người để ai cũng có cơ hội học tập, ai cũng được xã hội tạo điều kiện học tập. Rào cản ở đây có nhiều loại, nhưng chủ yếu là những chính sách lỗi thời và những cơ chế thực thi chính sách cứng nhắc làm cho người dân gặp khó khăn trong học tập. Thứ đến là những rào cản về tâm lý - xã hội, về phong tục tập quán lạc hậu níu kéo người lao động không cho họ học tập thường xuyên. Không kém phần quan trọng là thiếu sự quan tâm của nhà quản lý xã hội, là sự đầu tư không tới hạn về ngân sách trong việc tổ chức học tập cho người dân.

- Hai là, phải ngăn chặn tư tưởng, ý thức loại trừ ai đó ra khỏi phúc lợi giáo dục, lãng quên những người trong các nhóm yếu thế tại những vùng kinh tế khó khăn và những người vì các nguyên nhân khác nhau rơi xuống đáy của tháp phân tầng xã hội. Nhà nước phải có chính sách để từng cá nhân, từng cộng đồng không lâm vào tình trạng “cách ly tri thức”, tức là tình trạng thiếu năng lực tiếp cận, thu lượm, giao lưu và sáng tạo tri thức, từ đó tạo nên những khoảng cách tri thức giữa người này và người khác, giữa cộng đồng này với cộng đồng kia.
- Ba là, không để bất cứ người dân nào bị thất bại trong học tập. Bỏ học, không đủ sức theo đuổi khóa học, học xong không có việc làm, thi trượt không có chứng chỉ hành nghề v.v... đều là những thất bại của người học.
- Bốn là, bảo đảm an ninh con người trong các lĩnh vực giao thông, lương thực, thực phẩm, trật tự đường phố, bạo lực học đường và xã hội..., trong đó có an ninh (an toàn) cho con người trong việc thực thi quyền học tập. Học tập thuộc về quyền mưu cầu sinh sống và hạnh phúc của mỗi công dân - đó là quyền bất khả xâm phạm.
- Năm là, việc học tập của người dân phải giúp cho họ phát huy hết những tiềm năng, tức là phát triển toàn diện những năng lực cần có trong mỗi người. Con người là một hệ thống những năng lực, đa dạng và phức tạp. Một số nhà khoa học có năng lực viết văn và làm thơ; không ít nhà giáo lại là nhà hoạt động chính trị đồng thời là nhà báo; có những cán bộ chỉ huy quân sự là họa sĩ v.v... Những người được phát triển toàn bộ tiềm năng thì họ sẽ cống hiến tối đa cho sự phát triển bền vững của xã hội.
- Sáu , giáo dục phải là một phúc lợi quan trọng, mọi người đều phải được công bằng xã hội và bình đẳng xã hội trong quá trình học tập suốt đời.
1.3. Quan điếm chỉ đạo xây dựng xã hội học tập ở Việt Nam

     Theo Quyết định 89/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về xét duyệt Đ án xây dựng xã hội học tập ở nước ta trong giai đoạn 2012-2020, có 3 quan điểm chỉ đạo cần phải quán triệt:

  1. Mỗi người dân đều phải học tập suốt đời để trở thành người lao động có nghề, có năng suất lao động cao để cải thiện đời sống của cá nhân và gia đình, đóng góp được nhiều cho sự phát triển của xã hội.
  2. Mỗi người dân, mỗi gia đình,các đoàn thể và các lực lượng xã hội phải tạo ra những cơ hội và điều kiện để bất cứ thành viên nào của xã hội cũng được học tập, học tập suốt đời theo tinh thần xã hội hóa giáo dục và đào tạo.
  3. Xây dựng một hệ thống giáo dục trong đó có sự gắn kết giữa hệ thống giáo dục ban đầu với hệ thống giáo dục tiếp tục, giữa hình thức giáo dục chính quy với hình thức giáo dục không chính quy, giữa giáo dục trường học với giáo dục gia đình và giáo dục xã hội, giữa các ngành học, bậc học...

2. Xây dựng hệ thống giáo dục nghề nghiệp mở

2.1. Hướng đến một hệ thống giáo dục nghề nghiệp mở

2.1.1. Mục tiêu của hệ thống giáo dục mở bao gồm:

    Giáo dục nghề nghiệp (GDNN) nhằm giúp cho mỗi công dân trong xã hội có nghề, có năng lực làm được một số nghề lân cận, nghĩa là dễ dàng chuyển đổi sang một nghề khác trên cơ sở nghề được đào tạo, đồng thời, gắn kết lực lượng lao động được đào tạo thành nhân lực có chất lượng ngày càng cao, phục vụ cho sự phát triển sản xuất xã hội;
     - Đội ngũ lao động được đào tạo phải góp phần đắc lực vào việc tăng trưởng kinh tế và phát triển văn hóa xã hội bền vững;
     - Làm cho mọi địa bàn dân cư phát triển thị trường, cải thiện dân sinh, xóa nghèo tri thức, xóa nghèo nhân văn và xóa nghèo thu nhập.
2.1.2. Yêu cầu đặt ra cho việc tổ chức giáo dục nghề nghiệp cho nhân dân
     - Mọi người đều được công bằng xã hội và bình đẳng xã hội về học nghề và có tri thức, kỹ năng giải quyết việc làm; thực hiện phổ cập nghề cùng với phổ cập giáo dục phổ thông, phổ cập ngoại ngữ và tin học.
     - Học nghề là một việc phải tiến hành suốt đời qua các hình thức tập huấn, đào tạo lại và tự học để người lao động đáp ứng yêu cầu nâng cao chất lượng và hiệu quả đối với những nhiệm vụ được giao.
     - Đối với người lao động, các doanh nghiệp, cơ sở sản xuất cần tổ chức học tập tại nơi làm việc, tạo điều kiện nâng cao tay nghề, thăng tiến nghề nghiệp tại đơn vị sản xuất.
     - Trường dạy nghề, các cơ sở đào tạo nghề, các tổ chức sản xuất - kinh doanh có lớp đào tạo - bồi dưỡng người lao động tại chỗ, coi việc sử dụng, cập nhật các công nghệ học tập hiện đại như một phương thức đào tạo quan trọng nhằm đáp ứng yêu cầu ngày càng cao đối với nguồn nhân lực tương lai và nhân lực tại chỗ.
     - Xây dựng văn hóa nghề cho người lao động, trước hết là ý thức kỷ luật lao động, tinh thần làm việc vì chất lượng công việc và trách nhiệm cao trong việc xây dựng tập thể lao động thành một đơn vị học tập suốt đời.
2.2. Định hướng mở cho giáo dục nghề nghiệp

GDNN là một bộ phận của nền giáo dục mở của quốc gia, do đó, cần định hướng mở như sau:
     - Mở cho mọi người (Open to people)

     Bất cứ ai trong xã hội cũng cần có nghề và do đó, phải giúp cho người dân được học nghề. Ở nhiều nước, những người về hưu và người già cả khi muốn học thêm về nghề, nhà nước vẫn phải đáp ứng nhu cầu của họ. Các trường đại học dành cho lứa tuổi thứ ba, như trường đại học quận Tây Thành (Bắc Kinh) dành cho người cao tuổi học các môn như nhiếp ảnh, hội họa, tiếng Anh; trường đại học Ư3 A (University of the Third Age) của Anh dạy về vi tính, lái ca nô, sửa chữa máy, lịch sử, toán, phong cách thời trang, quy hoạch xe bus v.v... Tất nhiên, với người đang độ tuổi lao động, việc dạy nghề ở nhiều quốc gia được tiến hành hết sức đa dạng.
     - Mở về địa điểm (Open to place)

     Với người học, việc tổ chức học phải tính đến chọn vị trí của trường, lớp để người học có nhiều cơ hội lựa chọn nhằm giảm những khó khăn về địa lý, về giao thông, về nhiều phương diện khác liên quan đến sinh hoạt hàng ngày.

Dựa trên những công nghệ học tập hiện đại, chúng ta có thể chọn các địa điểm học như học tại trường chính quy, tại các cơ sở không chính quy hoặc phi chính quy, tại nhà, tại nơi làm việc...
     - Mở về thời gian (Open to time)

     Việc học nghề tại các cơ sở chính quy thường quy định chặt chẽ về thời gian lên lớp, thời gian thực hành, thời gian đi thực tế, thời gian thi hoặc kiểm tra. Với những người học không chính quy, cần có chương trình đáp ứng việc tổ chức học theo thời gian khác nhau để thuận lợi cho học viên. Đặc biệt là việc dạy nghề cho lao động nông thôn thì thời gian học cần hết sức mềm dẻo.
     - Mở về chương trình học (Open to curriculum)

     Chương trình học cần hết sức đa dạng về nội dung, về cách học và cơ chế học từng chương trình sao cho người học có thể chọn được chương trình theo đúng yêu cầu sinh sống của họ. Vấn đề quan trọng là, chương trình phải mang được những nghề mà xã hội cần phải mở mang đến với từng người dân, từng gia đình, dòng họ, từng cộng đồng dân cư, ai cũng có cơ hội tìm được một nghề phù hợp với nhu cầu, khả năng, điều kiện sống của mình.
     - Mở về ý tưởng (Open to ideas)

     Việc dạy nghề và phổ cập nghề mở ra những ý tưởng về phát triển sản xuất, thúc đẩy việc mở mang nghề mới, từng bước hiện đại hóa các nghề đang hoạt động, đẩy mạnh việc duy trì và mở rộng các nghề truyền thống, xây dựng các làng nghề v.v... Việc dạy nghề luôn phát huy tinh thần sáng tạo, khởi nghiệp, lập nghiệp cho mọi người dân gắn mục tiêu đào tạo nghề với tăng trưởng kinh tế, xây dựng văn hóa, phát triển xă hội bền vững.
     - Mở về phương pháp (Open to methods)

     Cần sử dụng nhiều phương pháp khác nhau tùy theo những công nghệ học tập và các phương tiện kỹ thuật được sử dụng trong các hình thức đào tạo, bồi dưỡng, huấn luyện, cần phải tiếp cận và sử dụng những phương pháp hiện đại để dạy nghề, cho dù là dạy những nghề có trình độ kỹ thuật không cao.

     Cách mở của hệ thống GDNN cần được thể hiện ở nhiều phương diện. Đứng từ quan điểm xã hội học tập thì vấn đề GDNN cần lưu ý những vấn đề sau:

  • Hệ thống GDNN phải được đặt trong mối quan hệ liên thông với các hệ thống giáo dục khác như giáo dục phổ thông, giáo dục cao đẳng và đại học, giáo dục người lớn, tạo điều kiện cho người học có thể chuyển đổi việc học tập của mình theo mong muốn riêng, và quan trọng hơn cả là dù theo hướng nào họ cũng thấy được viễn cảnh phát triển của mình.
  • Hệ thống GDNN cần được tổ chức sao cho việc đào tạo nghề không chỉ một lần cho một người lao động, mà nó là quá trình bám sát cuộc đời của từng người. Điều đó có nghĩa là, người lao động nào cũng phải học tập suốt đời, và việc học tập suốt đời đó bao gồm cả học tập về chuyên môn nghề nghiệp mà mình chọn một cách thường xuyên trong suốt cuộc đời.
  • GDNN phải gắn kết với công tác hướng nghiệp. Hướng nghiệp là công việc giúp người học chọn chính xác nghề mình muốn theo đuổi, và do đó, giúp họ chọn trường nghề để thực hiện được ý định nghề nghiệp của mình. Thành công trong chọn trường để học nghề là một yếu tố rất cần thiết để người học nghề học tập đạt kết quả tốt ngay từ thời gian đầu tham gia vào quá trình đào tạo nghề.
  • Bất cứ một công việc nào có mục đích mưu sinh đều cần qua đào tạo theo hướng “chuyên nghiệp” hơn. Ngay những việc như giúp làm việc nhà, dọn vệ sinh đường phố, lái xe ôm, chăn gia súc trên đng cỏ..., tưởng như đơn giản, song thực ra có quá nhiều vấn đề mà người đảm nhiệm việc đó phải được cung cấp những tri thức và kỹ năng cần thiết.

3. Trường dạy nghề mở trong xu thế phát triển hiện đại
3.1. Hệ thống giáo dục nghề nghiệp mở bao gồm những trường dạy nghề (những cơ sở đào tạo nghề) cũng có tính mở. Hệ thống giáo dục nghề nghiệp mở trong thời gian tới cần thể hiện các đặc trưng sau:
     - Tư liệu học tập (tài nguyên giáo dục), các công cụ học tập, các hoạt động là tự do, không có rào cản về pháp lý, tài chính và kỹ thuật, có thể hoàn toàn được sử dụng và tùy biến thích nghi trong mơi trường số.
     - Tối đa hóa sức mạnh của Internet để làm cho người học truy cập nhiều hơn, có hiệu quả hơn.
     - Có nguồn tài nguyên giáo dục (học tập) mở - một điều kiện hàng đầu để bảo đảm tính mở của hệ thống GDNN mở.

nl2

Từ cấu phần của Giáo dục mở trên đây, cần suy nghĩ tới GDNN mở theo cấu phần này như thế nào.

3.2. Tài nguyên giáo dục mở (Open educational resource) hay nguồn học tư liệu mở, nguồn tư liệu học tập mở được hiểu là những tài nguyên dạy học và nghiên cứu không có các chi phỉ và không có các rào cản truy cập, có sự cho phép về pháp lý để sử dụng mở

     Từ mô hình về cấu phần giáo dục mở, có thể thấy rằng, một học sinh đang học nghề có thể tham gia khóa học đại học trực tuyến, do không yêu cầu đầu vào mà họ tiếp cận ngay với các tài liệu học tập của bậc đại học theo chuyên ngành mà người ấy thích. Cũng như vậy, người không học trường dạy nghề vẫn có thể học nghề bằng con đường tích lũy những tín chỉ cần thiết.

3.3. Việc học tập bằng tài nguyên giáo dục mở dược khuyến khích ở nhiều nước.
     
Ví dụ, Bộ Giáo dục của Mỹ đã phát động các trường học "#GoOpen" (tức là "đi với mở"  trên website http://tech.ed/gov/open-education ngày 29/10/2015 và các lợi ích sau đây:
    
 - Gia tăng sự bình đẳng: mọi người đều có thể truy cập các tư liệu học tập mở chất lượng cao với nội dung thích hợp và cập nhật nhất vì những tư liệu nà được phân phối tự do.
     - Tiết kiệm tiền: việc sử dụng tư liệu học tập mở sẽ giảm nguồn tài chính đầu tư vào sách giáo khoa và sách tham khảo. Các nhà giáo dục nhờ nguồn tư liệu này mà có được chất lượng giảng dạy - đào tạo tốt hơn.
     - Có được nội dung đào tạo thích hợp: với tư liệu học tập mở, việc truy cập các nội dung giảng dạy và đào tạo không bị lỗi thời như nội dung sách giáo khoa truyền thống khi những tiến bộ của khoa học và công nghệ mới được ứng dụng.

     - Nâng cao năng lực giảng dạy của giáo viên: nhờ nguồn tư liệu phong phú mà giáo viên mở mang tri thức và kỹ năng thuận lợi hon, nhanh chóng hơn.

4. Xây dựng mô hình công dân học tập

     Sắp tới, Nhà nước sẽ ban hành bộ tiêu chí đánh giá những công dân học tập như là thành viên của xã hội học tập. Việc đào tạo công dân kĩ thuật  cũng cần dựa vào khung các đặc trưng của công dân học tập đã được dự thảo để trình lên Thủ tướng Chính phủ như:
 

Capture4


 

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

Hotline
Thăm dò ý kiến

Bạn thấy website này như thế nào?

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây