TẠP CHÍ GIÁO DỤC

https://tapchigiaoduc.moet.gov.vn


HỘI NGHỊ ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ THỰC HIỆN NHIỆM VỤ NĂM 2018 VÀ TRIỂN KHAI NHIỆM VỤ VỀ LĨNH VỰC LAO ĐỘNG NGƯỜI CÓ CÔNG VÀ XÃ HỘI NĂM 2019

     Nhằm thực hiện thắng lợi mục tiêu, nhiệm vụ kế hoạch phát triển KT-XH năm 2018, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội xác định nhiệm vụ trọng tâm là: “Tiếp tục hoàn thiện, phát triển thị trường lao động nhằm huy động và sử dụng hiệu quả nguồn nhân lực. Đổi mới và nâng cao chất lượng giáo dục nghề nghiệp, đẩy mạnh đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao phục vụ phát triển KT-XH gắn với cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư. Cải thiện, nâng cao mức sống người có công, bảo đảm an sinh xã hội và phúc lợi xã hội, góp phần giữ vững ổn định chính trị và trật tự, an toàn xã hội, thực hiện dân chủ và công bằng xã hội”. Với chủ trương như vậy, ngày 18/01/2019, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội tổ chức Hội nghị trực tuyến toàn quốc đánh giá kết quả lĩnh vực lao động, người có công và xã hội năm 2018; triển khai nhiệm vụ năm 2019. Dự và chỉ đạo có các đồng chí: Vũ Đức Đam - Ủy viên Trung ương Đảng, Phó Thủ tướng Chính phủ; Đào Ngọc Dung, Ủy viên Trung ương Đảng, Bộ trưởng Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội; đại diện lãnh đạo một số bộ, ban, ngành Trung ương.

     Báo cáo của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội nêu rõ, năm 2018, kết quả thực hiện nhiệm vụ thuộc lĩnh vực lao động - người có công và xã hội đạt được những kết quả tích cực. Trong đó, ngành đã hoàn thành các chỉ tiêu Quốc hội, Chính phủ giao, góp phần cùng cả nước hoàn thành toàn diện 12 chỉ tiêu kế hoạch phát triển KT - XH. Cụ thể như sau:
     Thứ nhất, về  phát triển giáo dục nghề nghiệp, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực. Ước tuyển sinh giáo dục nghề nghiệp các cấp trình độ khoảng 2.210 nghìn người, đạt 100,5% kế hoạch, trong đó: Tuvển sinh trình độ cao đẳng và trung cấp là 545 nghìn người, đạt 100,9% kế hoạch; sơ cấp và các chương trình đào tạo nghề nghiệp khác khoảng 1.665 nghìn người, đạt 100,3% kế hoạch (trong đó hỗ trợ đào tạo nghề cho khoảng 800 nghìn lao động nông thôn học nghề theo Quyết định số 1956/QĐ-TTg [1], đạt 100% kế hoạch đặt ra). Ước tốt nghiệp năm 2018 theo các trình độ đào tạo là 2.100 nghìn người, trong đó: Cao đẳng và trung cấp khoảng 440 nghìn người, sơ cấp và đào tạo dưới 3 tháng khoảng 1.660 nghìn người.
     Thứ hai, về phát triến thị trường lao động, tạo việc làm. Ước thực hiện cả năm 2018 tạo việc làm cho khoảng 1.648.860 người, đạt 103,1% kế hoạch, tăng 0,6% so với năm 2017. Trong đó: Tạo việc làm trong nước khoảng 1.506.000 người, đạt 101,1% kế hoạch; đưa 142.860 người đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng, đạt 129,9% kế hoạch. Tỷ lệ giới thiệu việc làm thành công trên 48%.
     Thứ ba, về việc thực hiện chính sách tiền lương, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp, an toàn vệ sinh lao động, cải thiện quan hệ lao động. Tỷ lệ thất nghiệp của lao động trong độ tuổi ở khu vực thành thị là 3,1% (thấp nhất trong 11 năm trở lại đây); Tỷ lệ lao động qua đào tạo đạt 58,6%; trong đó tỷ l lao động qua đào tạo có văn bằng, chứng chỉ đạt 23-23,5%.
     Thứ tư, thực hiện tốt các chế độ, chính sách ưu đãi đối với người có công với cách mạng, đời sống người có công được nâng lên. Chi thường xuyên thực hiện chế độ, chính sách cho 1.333.492 đối tượng người có công với kinh phí là 31.834,472 tỷ đng; cấp phát kinh phí chi trả trợ cấp 1 lần cho 19.390 đối tượng với kinh phí là 141,796 tỷ đồng. Thực hiện hỗ trợ về nhà ở cho 228.154 hộ (xây mới 113.937 nhà; sửa chữa 114.577 nhà); hiện đang triển khai hỗ trợ cho 57.896 hộ đúng tiến độ. Hỗ trợ trên 500 tỷ đồng tu sửa, nâng cấp mộ liệt sĩ, các công trình nghĩa trang liệt sĩ, đài tưởng niệm. Ước đến cuối năm 2018 có 99% hộ gia đình người có công có mức sống bằng hoặc cao hơn mức sng trung bình của nhân dân nơi cư trú; 98,5% xã/phường làm tốt công tác thương binh, liệt sĩ và người có công.
     Thứ năm, về thực hiện giảm nghèo nhanh và bền vững, thu nhập của hộ nghèo được nâng lên, đời sống được cải thiện rõ rệt. Theo kết quả tổng hợp sơ bộ việc rà soát hộ nghèo, hộ cận nghèo, đến cuối năm 2018, tỷ lệ hộ nghèo bình quân cả nước theo chuẩn nghèo tiếp cận đa chiều giảm còn khoảng 5,35% (giảm 1,35% so với cuối năm 2017); bình quân tỷ lệ hộ nghèo ở các huyện nghèo giảm còn dưới 35% (giảm trên 5% so với cuối năm 2017); bình quân tỷ lệ hộ nghèo ở các xã đặc biệt khó khăn vùng bãi ngang ven biển và hải đảo, các xã đặc biệt khó khăn, xã biên giới, xã an toàn khu vùng dân tộc và miền núi giảm khoảng 3-4% so với cuối năm 2017.
     Thứ sáu, về công tác trợ giúp xã hội, tiếp tục mở rộng đối tượng thụ hưởng và nâng dần mức trợ cấp cho đối tượng bảo trợ xã hội. Thực hiện trợ cấp xã hội hàng tháng và cấp thẻ bảo hiểm y tế cho 2.858.068 người. Bố trí kinh phí 17.388 tỷ đồng; thực hiện hỗ trợ về giáo dục đối với người khuyết tật 299 tỷ đồng; thực hiện trợ giúp đột xuất 24.676,758 tấn gạo (trong đó 9.833,340 tấn gạo cứu đói; 1.938,308 tấn gạo cứu đói dịp Tết; 2.905,110 tấn gạo khắc phục hậu quả thiên tai). Ngoài ra, Bộ còn chăm lo đời sống vật chất, tinh thần cho người cao tui, người khuyết tật; phát triến đội ngũ nhân viên, cộng tác viên công tác xã hội.
     Thứ bảy, về công tác bảo vệ và chăm sóc trẻ em. Thực hiện các chương trình, đề án, dự án về bảo vệ, chăm sóc trẻ em; tăng cường các giải pháp phòng, chống bạo lực, xâm hại trẻ em. Ước thực hiện năm 2018 đạt 88% trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt được trợ giúp dưới các hình thức; 90% xã, phường, thị trấn đạt tiêu chuấn phù họp với trẻ em.
     Thứ tám, về bình đng giới và vì sự tiến bộ của phụ nữ. Nâng cao nhận thức về bình đẳng giới và phòng, chống bạo lực. Làm tốt công tác đào tạo nghề, giải quyết việc làm cho lao động nữ. Ước trên 50% lao động nữ được học nghề; trên 48% lao động nữ được giải quyết việc làm.
     Thứ chín, về cai nghiện ma túy, phòng, chống tệ mại dâm và hỗ trơ nạn nhân bị mua bán trở về. Tiếp tục thực hiện Đề án đổi mới công tác cai nghiện ma túy; đến nay cả nước có 120 cơ sở cai nghiện ma túy, gồm 105 cơ sở công lập và 15 cơ sở dân lập. Năm 2018, số người được tiếp nhận tại các cơ sở là 6.438 học viên (tổng số người đang được điều trị cai nghiện tại các cơ sở là 36.368 học viên); số người được cai nghiện là 4.320 người; thực hiện quản lý sau cai tại nơi cư trú là 22.937 người; hỗ trợ nạn nhân bị mua bán trở về, năm 2018, có gần 1.500 nạn nhân bị mua bán.

1

Ảnh 1: Bộ trưởng Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội Đào Ngọc Dung phát biểu tại Hội nghị

     Tại hội nghị, sau khi báo cáo kết quả thực hiện nhiệm vụ năm 2018, các đại biểu tập trung thảo luận, phân tích làm rõ những tồn tại trong thực hiện nhiệm vụ của ngành như: Việc kết nối cung - cầu trên thị trường lao động còn hạn chế; thiếu hệ thống chính sách giải quyết việc làm hiệu quả cho các nhóm đối tượng đặc thù; chất lượng, hiệu quả đào tạo của nhiều cơ sở giáo dục nghề nghiệp chưa đáp ứng được yêu cầu; kết quả giảm nghèo chưa thực sự mang tính bền vững; vẫn còn xảy ra tình trạng tiêu cực, gian lận để hưởng các chế độ về bảo hiểm thất nghiệp, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, ưu đãi người có công; các vụ bạo lực, xâm hại trẻ em gây bức xúc trong dư luận xã hội; tình hình tội phạm ma túy vẫn diễn biến phức tạp, ngày càng khó kiểm soát hơn... để từ đó tìm giải pháp khắc phục nguyên nhân, thực hiện tốt nhiệm vụ năm 2019.
     Để hoàn thành các chỉ tiêu năm 2019 (Tỷ lệ thất nghiệp khu vực thành thị duy trì ổn định dưới 4%; tỷ lệ lao động qua đào tạo đạt từ 60-62%; tỷ lệ hộ nghèo giảm từ 1-1,5%, riêng các huyện nghèo nghèo giảm 4%), Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội đề ra nhiều nhiệm vụ, giải pháp. Trong đó, tập trung phát triển, đổi mới giáo dục nghề nghiệp gắn với nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, nhất là nhân lực chất lượng cao, phù hợp với nhu cầu thị trường; chú trọng công tác hướng nghiệp, dự báo, ứng dụng công nghệ thông tin, kết nối cung - cầu nhân lực trong cả nước, khu vực và quốc tế; triển khai các giải pháp đồng bộ để mở rộng diện bao phủ, phát triển đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp. Rà soát, giải quyết hiệu quả chính sách hỗ trợ người có công, bảo đảm công khai, minh bạch, kịp thời chấn chỉnh, xử lý nghiêm sai phạm. Đề xuất định hướng giảm nghèo bền vững sau năm 2020; trong đó, ưu tiên nguồn lực hỗ trợ vùng khó khăn, đồng bào dân tộc thiểu số nhằm hạn chế tái nghèo.
     Kết luận hội nghị, Phó Thủ tướng Chính phủ Vũ Đức Đam biểu dương những thành tích đạt được, đồng thời chỉ rõ những khó khăn, vướng mắc và yêu cầu ngành Lao động - Thương binh và Xã hội tập trung tháo gỡ. Đó là việc làm thế nào để giảm nghèo bền vững; nâng cao chất lượng nguồn nhân lực; tăng năng suất lao động, tăng thu nhập bình quân đầu người; giảm tỷ lệ lao động thất nghiệp; giảm tình trạng bạo lực, xâm hại trẻ em… Phó Thủ tướng Vũ Đức Đam yêu cầu Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội thực hiện tốt tinh thần xây dựng Chính phủ kiến tạo trong tất cả các lĩnh vực thuộc Bộ; tập trung, ưu tiên các nguồn lực nâng cao chất lượng đào tạo nghề, đào tạo kỹ năng cho người lao động. Việc đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng phải hướng tới những thị trường chất lượng cao. Đặc biệt, công tác chăm sóc, bảo vệ trẻ em cần nhận được sự quan tâm nhiều hơn của các cấp ủy, chính quyền và cộng đồng xã hội. Mỗi tỉnh, thành phố cần xây dựng mạng lưới dịch vụ hỗ trợ trẻ em. 
--------------------

[1] Chính phủ (2009). Quyết định số 1956/QĐ-TTG ngày 27/11/2009 của Thủ tướng Chính phủ về Phê duyệt Đề án “Đào tạo nghề cho lao động nông thôn đến năm 2020”.

Nguồn tin: Tạp chí Giáo dục

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây